|
DU KHẢO PHƯƠNG BẮC (9)
Sau ba lần kháng chiến thắng lợi, năm 1389, Trần Hưng Đạo được phong làm Hưng Đạo Vương. Ngài quay về ở ẩn tại Vạn Kiếp, là thái ấp được phong kèm theo tước Vương [thời nhà Lê và nhà Nguyễn, chế độ phong kiến chỉ c̣n phong (tước), không c̣n kiến (điền), tức là cấp ruộng đất]. Tương truyền, trong thời gian này, ngài lập vườn trồng cây thuốc để chữa bệnh cho dân (trước đó ngài đă lập vườn thuốc Nam,chữa thương và trị bệnh cho quân sĩ)cho nên vùng núi này mới có tên là Dược Sơn.
Nhân dân kính trọng lập đền thờ ngay khi ngài c̣n
sống. Ngài qua đời tại đây năm 1300.
Từ đó đến nay ở các đền thờ Hưng Đạo Vương thường xuyên có lên đồng, mà miền Bắc gọi là "hầu đồng" hay "hầu bóng" mà ở Huế thường gọi là "nhảy vọt". Gần đây miền Bắc có tổ chức "Liên hoan hầu bóng", qui tụ các cô đồng, cậu đồng từ Hà Nội, Hải Pḥng, Hải Dương, NamĐịnh, v.v. tŕnh diễn múa hát hầu văn trên sân khấu. Ngồi hàng đầu, gơ chuông mơ là một thầy tế, mặc áo dài đen, khăn đóng. Tôi lắng tai, th́ nghe niệm "Nam Mô A Di Đà Phật" hay "Nam Vô A Di Đà Phật" không rơ, rồi sau đó là danh hiệu Đức Thánh, Nam Tào, Bắc Đẩu, và một loạt thánh thần. Hẳn chúng ta c̣n nhớ chuyện Phạm Nhan, người có cha là người Hoa, mẹ người Việt, được đi du học phép thuật ở quê cha, sau đó đem âm binh bộ hạ theo chân quân Nguyên về quấy phá quê mẹ. Nhưng do quân Việt (có lẽ đă đọc truyện Phong Thần của Tàu) dùng huyết dê, huyết chó phun vào âm binh khiến chúng bỏ chạy. Phạm Nhan bị bắt đem chém đầu, nhưng chém đầu này th́ mọc đầu khác. Quân sĩ tŕnh báo với Trần Hưng Đạo. Ngài đưa cây kiếm của ngài cho đao phủ, dặn bôi phân gà vào kiếm, thế là đầu phạm nhân ĺa khỏi cổ, không mọc được nữa. Tuy nhiên, hồn của y vẫn chưa chết, vẫn hiện xuống trêu chọc phụ nữ và trẻ em. V́ thế những người bị bệnh do "vương" phải ác thần thường đến đền của Hưng Đạo Vương cầu khẩn ngài "đuổi tà". Đă hơn 700 năm trôi qua mà người ta vẫn tin tưởng vào câu chuyện có màu sắc Đạo giáo này cho nên vẫn c̣n cầu khấn. Rất nhiều tỉnh thành, từ Nam Định, Thái B́nh, cho đến Sài G̣n, B́nh Dương, đều có đền thờ ngài. Ở Huế hồi xưa cũng có nhiều đền thờ Đức Thánh Trần, nhưng cho đến nay chỉ c̣n một số ít, thuộc sở hữu tư nhân, như Tân Phẩm Linh Từ ở số 238 đường Phan Chu Trinh, Đài Phước Vọng Từ ở 399 Chi Lăng, Thanh Cao Vọng Từ, ở 36/8 Nguyễn Khoa Chiêm.
Tuy nhiên, ở Huế, sinh hoạt lên đồng vẫn c̣n được
thực hành ở điện Ḥn Chén, nơi sau 1954, Liễu Hạnh Công chúa được
đưa từ ngoài Bắc vào thờ chung với Thiên Y A Na, nữ thần của người
Champa và ở một số am miếu nhỏ.
Các thực phẩm lễ vật ắt phải làm cho các ngài
ngạc nhiên v́ thuở các ngài c̣n trên dương thế không hề thấy và có
thể các ngài không biết mở lon, mở hộp ra sao.
Quần thể đền Kiếp Bạc c̣n bao gồm chùa Nam Tào và
chùa Bắc Đẩu, cách đây khoảng 1km.
Chúng tôi hỏi chuyện mấy bà cụ giữ đền mới biết
họ là những cán bộ về hưu. Nay hội hưu trí phân công họ quét dọn,
nhang đèn hầu thánh. Cứ gọi là "có trực mới vực được đạo"!
Chúng tôi không sang chùa Nam Tào, nhưng cũng
đoán rằng chùa được nhà nước xây dựng tươm tất, đẹp đẽ như chùa Bắc
Đẩu. Các ngài được thờ chung với Phật và Bồ Tát mặc dù hai ngài
không hề được nhắc đến trong kinh điển Phật giáo. Như vậy mới thấy
ảnh hưởng Đạo giáo (hay Lăo giáo) vẫn c̣n mạnh trong văn hóa xứ Việt,
chẳng hạn trong việc xem phong thủy, phương hướng khi dựng nhà, đắp
mộ, coi ngày giờ , tuổi tác khi cưới hỏi, ma chay, khai trương doanh
nghiệp, v.v.
Nhưng ngày nay lễ hội Đức Thánh Trần được tổ chức
4 lần/ năm! Ngày giỗ của ngài kéo dài trong 1 tháng! Đó là không kể
bên cạnh các bàn thờ luôn có “ḥm công đức”. Trong các dịp lễ hội
các ḥm ấy được tăng cường hàng chục ḥm. Đây có lẽ là lư do khiến
người xứ Bắc h́nh thành phong tục cúng tiền lẻ khi đi đền chùa (và
để chắc chắn là thánh thần biết họ có dâng lễ, nhiều người không bỏ
tiền vào ḥm mà nhét vào tay các tượng - mà tượng th́ có rất nhiều!).
|