|
DU KHẢO PHƯƠNG BẮC (3)
BẮC NINH Dân gian gọi là chùa Dâu, v́ vùng đất này gọi là vùng Dâu, nơi người dân sinh sống bằng nghề trồng lúa và trồng dâu, nuôi tằm. Tên chữ của chùa là Pháp Vân (mây pháp), một trong 4 chùa trong hệ thống tứ pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ (mưa pháp), Pháp Lôi (sấm pháp), Pháp Điện (chớp pháp). Pháp có nghĩa là giáo huấn của Đức Phật. Nhưng dân gian không hiểu những ư nghĩa ẩn dụ ấy cho nên xem tứ pháp là các nữ thần mưa, sấm, v.v. V́ thế, khi trời hạn hán th́ người ta rước tượng các "bà" để cầu đảo. Và có lẽ cầu nguyện cũng có hiệu quả cho nên chùa c̣n được gọi là chùa Diên Ứng. C̣n người khác, quan tâm đến giáo pháp th́ gọi chùa là Thiền Định Tự, Cổ Châu Tự, là viên ngọc quí thuở xưa. Cổ Châu cũng là tên chữ của vùng đất này. Theo văn bia và theo truyền thuyết th́ chùa Dâu có từ thời Sĩ Nhiếp, tức là cuối thế kỷ thứ 2, đầu thế kỷ thứ 3. Lúc ấy nước Nam bị nhà Hán đô hộ. Họ chia nước Nam ra thành 9 quận. Mỗi quận đặt một quan cai trị gọi là Thái Thú. Trong 9 quận th́ Giao Chỉ là quan trọng nhất. Trị sở quận Giao Chỉ là thành Luy Lâu hay Liên Lâu, tức là vùng Dâu. Sĩ Nhiếp là Thái Thú quận Giao Chỉ từ năm 187 đến 226. Ông là người đem văn hóa Hán truyền sang nước ta và làm cho Luy Lâu trở thành một trung tâm thương mại sầm uất. Đích thân Sĩ Nhiếp mở trường dạy chữ Hán, do đó dân ta vẫn c̣n nhớ ơn và gọi Sĩ Nhiếp là Sĩ Vương và lập đền thờ. Cùng thời gian ấy có những vị tăng gốc Trung Á, Ấn Độ, như Khâu Đa La, Ma Ha Kỳ Vực, v.v. đă theo các thuyền buôn đến Giao Chỉ để truyền bá đạo Phật. Trong khi miền Nam Trung Quốc (nước Ngô) chưa biết đến đạo Phật th́ Giao Chỉ đă có hơn 500 tăng ni, đă dịch được 15 bộ kinh. Ngài Khương Tăng Hội (cha người Khương Cư (Sogdiana- vùng đất giữa Iran và Uzbekistan ngày nay), sinh tại Giao Chỉ, năm ?- 280), học Phật và dịch kinh tại Giao Chỉ, sau đó sang Đông Ngô năm 247 để dịch kinh sang chữ Hán và giảng dạy giáo pháp. V́ vậy, vùng Dâu được xem là trung tâm Phật giáo đầu tiên của nước Nam.
Những di tích chùa Dâu c̣n lại tới bây giờ là nhờ
Trạng Nguyên Mạc Đỉnh Chi chủ tŕ việc tu sửa, mở mang chùa vào năm
1313, dưới thời vua Trần Anh Tông. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí ghi
rơ : "Đời Trần, Mạc Đỉnh Chi dựng chùa trăm gian, tháp chín tầng,
cầu chín nhịp, nền cũ nay vẫn c̣n." Chùa Dâu xưa thuộc làng Khương
Tự, huyện Siêu Loại, nay thuộc xă Thanh Khương, huyện Thuận Thành.
Chữ Khương trong tên làng, tên xă nhắc người ta nhớ đến ngài Khương
Tăng Hội, vị sơ tổ thiền tông Việt Nam, người đă để lại cuốn An Ban
Thủ Ư, dạy thiền hơi thở, là kỹ thuật thiền định căn bản của thiền
tông. Ngôi tiền đường chùa Dâu, sau lưng là tháp Ḥa Phong.
Tháp Ḥa Phong,tức là Ḥa Cốc, Phong Đăng, có nghĩa là Thóc Lúa Được Mùa. Thóc Lúa phải chăng là hạt giống Phật Pháp? Theo Thiền Uyển Tập Anh, các vị thiền sư tại chùa Dâu tu hành đắc đạo có thể kể ra là Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinidaruri), người Ấn Độ (?- 594), Pháp Hiền (?-626), Thiện Hội (?-900), Sùng Phạm (1004-1087), Tŕ Bát (1049-1117), Tính Mộ (1706-1755). Ngày xưa tháp có 9 tầng nay chỉ c̣n 3. Bia tháp cho biết sư Tính Mộ, nhờ sự trợ duyên của Kiên Thọ Hầu Vơ Hà Trang tu sửa tháp năm 1738, lúc ấy tháp chỉ có 3 tầng.
Tường ở chân tháp làm bằng gạch nung rất dày, tới
1,6 m, cửa ṿm cuốn cao 2, 96m, rộng 1,84m. Trước tháp có tượng ḅ
thần hay cừu (?), dài 1, 33m, cao 0,8m. Trong tháp có một chiếc khánh đồng đúc năm 1817.
Tiền đường có hai vị Hộ Pháp (được ghi là Hộ Pháp
Phật Thiện và Phật Ác, thay v́ khuyến thiện, trừng ác) và tám vị Kim
Cương. Gian thiêu hương đặt tượng Cửu Long (Đức Phật đản sinh), hai
bên có tượng Thập Điện Diêm Vương), Tam Châu Thái Tử và Mạc Đỉnh
Chi. Trong thượng điện có tượng Pháp Vân và Pháp Vũ (h́nh tượng hóa
thành hai bà), niên đại thế kỷ thứ 18.
Một tay đưa ra, tay kia cầm một viên ngọc ,tượng trưng cho pháp Phật quí báu.
Bên trái có tượng ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Trước mặt nhà thờ Tổ và Thánh Mẫu có một giếng cổ, tương truyền là nơi bà Man Nương, mẹ của bốn bà Tứ Pháp, cắm tích trượng xuống đất để cầu nước khi trời hạn hán. Nước đă phun lên ngay ở đây.
Sơ đồ này cũng cho thấy Phật pháp khi truyền vào một nền văn hóa nào đó sẽ pha trộn với văn hóa, truyền thuyết, tín ngưỡng địa phương và mất đi phần nào tính thuần khiết vốn có. Phật pháp vốn khuyến khích mỗi người tự thắp đuốc lên mà đi, Đức Phật chỉ bày cho con đường thôi, nhưng nhiều người lại xem Đức Phật, hay pháp Phật như thần thánh có thể ban phước, ban lộc. Người ta dễ nhớ đến hội chùa Dâu qua câu ca dao:
Dù ai buôn bán đâu đâu, Với những đám rước kiệu các tượng Tứ Pháp, tục gánh kiệu thi giữa hai nhóm khiêng kiệu tượng Pháp Vũ và Pháp Lôi, v.v. Giáo pháp của Phật bị che khuất dưới các hoạt động lễ hội, lễ nghi, nghi thức, nằm sâu trong vỏ bọc tín ngưỡng.
Ít người biết rằng ngôi chùa này c̣n lưu giữ được
12 bộ kinh quí : Cổ Châu Pháp Vân Phật Bản Hạnh Ngữ Lục, Tam Giáo
Kinh, Kỳ Vũ Kinh, v.v. mà đây mới thật sự là Cổ Châu, là viên ngọc
xa xưa, và càng ít người biết rằng pháp Phật thật sự cũng không phải
là kinh điển mà là kinh nghiệm, trí tuệ của mỗi người sinh ra từ sự
thực hành những lời dạy của đấng giác ngộ ghi trong kinh điển.
|