BẮC NINH
Chùa
Pháp Lôi
Chúng
tôi đi dọc theo sông Dâu, đi qua làng Trí Quả (làng Dàn), nhưng
không t́m ra chùa Trí Quả (Pháp Điện). Thật là ngộ khi lấy tên chùa
đặt tên cho làng. Như vậy, làng có tên dân gian, thường là một từ
thôi, chẳng hạn làng Dâu, làng Dàn, c̣n tên chữ th́ có hai từ như
làng Cổ Châu, Cổ Pháp, Phật Tích, v.v.
Đi ngang qua một ngôi chùa có vẻ bề thế, nhưng
tên chùa lại ghi bằng chữ Hán cho nên chúng tôi không ai đọc được.
Có lẽ chùa nên giúp khách du lịch một chút bằng cách gắn thêm một
biển đề chữ quốc ngữ. Và có lẽ quí thầy nên giúp chúng sinh một chút
bằng cách tụng kinh bằng chữ Nôm!

Sau khi chụp ảnh, chúng tôi nhờ một người bạn "Hán
rộng Nôm tài" đọc giùm th́ bạn ấy thông ngôn là "Xuân Tự Quan" (không
biết có phải là Xuân Quan Tự mà ghi theo kiểu "nghệ sĩ"?)

Trong sân chùa là bảng ghi công đức những người đóng góp trùng tu
chùa, tiếp đó là tiền đường. Nhưng cổng vào đă đóng v́ bây giờ là
giờ "tịnh", tức là giờ nghỉ trưa.

Chùa Pháp Lôi (pháp Phật như sấm) c̣n gọi là Phi Tướng Tự, nhưng dân
gian lại gọi là chùa Tướng (!). Ở đàng xa là lư hương và tượng hộ
pháp.

Lư hương và hai tượng hộ pháp rất to. Hai ông xưa kia chắc ngồi
trong một ṭa nhà,c̣n bây giờ ngồi dưới mái che tạm. Và xưa kia có
lẽ chùa cũng rất to.

Phi Tướng xưa kia là một thiền viện lớn trong thành Luy Lâu, nơi
nuôi dưỡng và đào tạo rất nhiều thiền sinh. Nhưng nay chỉ c̣n một
khu vườn khá rộng và một ngôi chánh điện nhỏ, do một ni sư trông coi.
Trên tường có một bảng lớn ghi lịch sử chùa, nhưng nằm trong phía
bóng tối nên không đọc được. Cửa vào điện Phật là đóng nên đành quay
ra, không chụp h́nh bà Pháp Lôi (bà Sấm) được.
Ra đứng bên hông chùa có thể nh́n thấy thành cổ
Luy Lâu, bây giờ là một g̣ đất cao, cây cối um tùm.
Thành Luy Lâu

Phế tích thành Luy Lâu.
Đi ra khỏi chùa, xe chúng tôi đi qua một con đường khác dẫn vào
thành cổ:

Cổng vào di tích. Nhưng những người dân địa phương báo bên trong
không có ǵ. Hơn một nửa diện tích thành cổ bây giờ đă trở thành đất
ở của dân làng Lũng Khê.
Trong thành c̣n có chùa B́nh Văn, là di tích về việc truyền bá văn
hóa Hán, thế kỷ thứ 2, c̣n có bến Gạo, là nơi cha mẹ học sinh chở
gạo đến trường nuôi con ăn học. Ngoài ra c̣n có một cầu đá bắc qua
lăng Sĩ Nhiếp.

Bên ngoài cổng thành c̣n một số nấm mộ đắp theo kiểu xưa.

Xe đi qua mấy con đường làng với kiến trúc mới và cũ nằm chen nhau.
Nhà cũ xây bằng gạch trần, không trát vữa.
Đền Sĩ Nhiếp

Bia đề Đền và Lăng Sĩ Nhiếp, Nam Giao Học Tổ Sĩ Nhiếp. Có lẽ ghi Hán
Văn Học Tổ th́ đúng hơn (?).

Cổng đền Sĩ Nhiếp. Đền tọa lạc ở thôn Tam Á, xă Gia Đông, huyện
Thuận Thành, ngay ven đường 282, cách chùa Dâu khoảng 1km.

Do cổng bị đóng, chúng tôi không vào được nên chỉ chụp h́nh sân
trong qua khe cửa.
Sĩ Nhiếp là Thái Thú Giao Chỉ, về sau gọi là Giao
Châu (từ năm 203) trong 40 năm, từ năm 187 đến năm 226. Lúc đầu Sĩ
Nhiếp là quan của nhà Đông Hán, về sau làm quan nhà Đông Ngô. Lúc
bấy giờ là thời Tam Quốc bên Trung Nguyên, là thời chiến tranh giữa
ba nước Tào Ngụy, Thục Hán và Đông Ngô. Sĩ Nhiếp khéo léo phục tùng,
cống nạp cho nhà Hán và sau đó là nhà Ngô nên giữ cho Giao Chỉ được
yên b́nh. Ông lại dung nạp các danh sĩ cũng như thường dân chạy loạn
từ Trung Nguyên sang truyền bá văn hóa Hán, cũng như phát triển
thương mại, kinh tế bản địa. Sử gia Ngô Sĩ Liên nhận xét rằng "từ đó
mà dân ta thông thi thư, học được lễ nhạc và xây được nền văn hiến".
Vậy th́ dân ta trước khi "được" phương Bắc cai trị th́ chưa có văn
hiến chăng? Gần đây, kể từ năm 2009, chính quyền địa phương tổ chức
lại lễ rước Sĩ Nhiếp, có lẽ cũng cùng quan điểm Ngô sử gia chăng?
Trần Ngọc Bảo
Xem tiếp Du Khảo Phương Bắc (5)