Rời cầu Trường Hà, xe đi thẳng một đoạn ngắn chừng 100m thì gặp đường 49B, là con đường bắt đầu từ một điểm trên quốc lộ 1, gần chân cầu Mỹ Chánh, huyện Phong Điền, chạy ra bờ biển, rồi đi dọc theo dải cát trắng ven bờ Thừa Thiên, qua các làng mạc thuộc huyện Quảng Điền, Phú Vang, Phú Lộc. Nhưng con đường này chưa phải là con đường du lịch vì nhà cửa và cồn cát che khuất khiến du khách không nhìn thấy biển.



Xe rẽ phải theo đường 49B đi về hướng đông nam. Xa xa là núi xanh, mở ra phong cảnh đẹp. Nhưng con đường thì khá hẹp, rất khó tránh né khi gặp xe đi ngược chiều.

 



Hai bên đường là những ngôi nhà nhỏ, một tầng, có sân vườn chật hẹp. Xen giữa các khu dân cư là những nghĩa trang lớn, với nhiều ngôi mộ có kiến trúc cầu kỳ.



Từ xe nhìn qua cửa kính du khách thấy một ngọn đồi cao, trên đỉnh có tháp - Thúy Vân kia rồi!



Tại một ngã ba có bến đỗ xe buýt, xe rẽ phải, theo một con đường bê tông hẹp và quanh co để đến chùa.



Cây khế trong một khu vườn vươn cành nặng trĩu trái ra cả ngoài đường.



Ở chân núi có một bãi cho xe đỗ. Và đây là tấm bia khắc chữ Thúy Vân Sơn. Thật ra, đây là một ngọn đồi bên đầm Cầu Hai, trong địa phần hai làng Đông An và Hiền Vân, nay thuộc xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc. Từ đây có thể nhìn thấy núi Linh Thái và cửa biển Tư Hiền.


Tương truyền, thời các chúa Nguyễn, trên ngọn đồi này đã có chùa, không rõ xây từ bao giờ, có tên là Mỹ Am Sơn Tự. Khi chúa Nguyễn Phúc Tần, vào những năm giữa thế kỷ 17, đi tuần du qua đây thấy phong cảnh hùng vỹ, có địa thế đẹp, đã xây thành một ngôi chùa với điện Đại Hùng lớn để trấn sơn, giữ yên cho vùng đất biên cương, và đặt tên chùa là Thánh Duyên. Năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu cũng cho tu sửa. Hơn 100 năm sau, năm1825, vua Minh Mạng lại cho trùng tu và đến năm 1836, nhân lễ mừng thọ mẹ, vua lại nâng cấp ngôi chùa, gọi là "đại trùng kiến" và khắc một bài văn vào bia đá ghi lại sự kiện này.



Vua Thiệu Trị xếp Thúy Vân Sơn và Thánh Duyên Tự vào hàng thắng tích và làm một bài thơ ca tụng cảnh đẹp nơi đây.


Trong ảnh là bi đình, trong đó có tấm bia khắc bài thơ ngự chế với tựa là "Vân Sơn Thắng Tích", dịch ý là:

Non cao xanh ngắt. Cây biếc ngát hương. Ngoài ngắm đại dương. Trong nhìn biển nhỏ. Trúc biếc tùng già khiến nghĩ là núi Linh Thứu.

Hoa vàng cỏ mịn rõ ràng là Hương Quốc Kỳ Viên. Trời thanh u tự tại. Cảnh cực lạc từ bi. Vòi vọi non xanh ước mấy xuân,

Rắn rồng nương náu chốn hang thần. Gió thiền chuông điểm rừng sâu dội. Cõi diệu đưa hương biển pháp nhuần.

Cây vướng mây lành lên thượng giới. Đường xuyên guốc sãi lấm hồng trần. Duyên vua rưới khắp đời qui thiện. Cảnh đẹp huy hoàng hẳn có nhân.



 

Miếu sơn thần dưới chân Thúy Vân Sơn.



Phía trước ngôi miếu là đầm Cầu Hai, hồi xưa gọi là Cao Đôi.



Ven đầm là những tảng đá từ trên núi lăn xuống nằm ngổn ngang. Phong cảnh đẹp như tranh. Các bạn tung tăng đi ngắm cảnh và tìm vị trí để chụp hình.


 

Ven đầm phía ngược lại là chợ, họp ngay dưới chân núi Thúy. Kế đó, là thuyền chài, xa xa là dãy núi như đang trườn ra cửa biển.


 

Những tảng đá lớn nhỏ, lấm tấm trắng, do dấu vết của hàu, trai bám vào. Mặt nước long lanh, in bóng những đám mây trắng cuồn cuộn bay, che mờ dãy núi xa.


 

Nào là nước, nào là núi, nào là mây, nào là cây, với cỏ, với nắng thu vàng , khiến ai cũng trải lòng ra, vui với đất trời.


 

Leo lên những bậc đá không cao lắm, lữ khách dừng chân trước của tam quan Thánh Duyên Tự.


 

Chánh điện chùa Thánh Duyên



Bi đình, nơi dựng bia đá khắc bài ngự chế "Thánh Duyên Tự Chiêm Lễ". Theo lạc khoản đề ở cuối thì đây là bài văn bia của vua Minh Mạng được khắc vào một ngày tốt tháng ba năm Đinh Dậu niên hiệu Minh Mạng thứ 18 (1837). Bia cao 1,72m, rộng 0,84m, dày 0,25. Trán bia chạm lưỡng long triều nguyệt, riềm bia chạm hình hoa lá. Trong bài văn có câu:
 

Cửa tùng hoa mừng khách. Lối đá chim đón người. Khánh rung xuyên rừng rậm.Tiếng kinh rộn hàng cây. Núi sâu đẹp như vẽ. Cảnh đẹp vui lòng người.

 

Trần Ngọc Bảo

(Xem tiếp Phần 3)


 

art2all.net