Trần Ngọc Bảo

 

 

 

 DU KHẢO PHƯƠNG BẮC (7)

 


BẮC NINH
Đền Đô

         

          Khi chúng tôi đến đền Đô hay đền Lư Bát Đế, là đền thờ 8 vị vua đầu triều Lư th́ trời đă về chiều. Bóng đă đổ dài, nhuộm vàng khung cảnh ngôi đền.

Đền Lư Bát Đế thuộc làng Đ́nh Bảng (nay là phường Đ́nh Bảng), thị xă Từ Sơn. Đền nằm cách Hà Nội gần 20 km về phía bắc, thuộc địa phận hương Cổ Pháp nên c̣n gọi là đền Cổ Pháp. Tám vị vua ấy là:

Lư Công Uẩn tức Lư Thái Tổ (1009-1028);
Lư Thái Tông (1028-1054);
Lư Thánh Tông (1054-1072);
Lư Nhân Tông (1072-1128);
Lư Thần Tông (1128-1138);
Lư Anh Tông (1138-1175);
Lư Cao Tông (1175-1210) và
Lư Huệ Tông (1210-1224).

Vị vua thứ 9 của nhà Lư là nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Việt Nam: Lư Chiêu Hoàng, được lập làm Thái Tử v́ vua Huệ Tông không có con trai, sau đó được lập làm Hoàng Đế khi mới 7 tuổi và nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh lúc mới 8 tuổi (1225). Vị vua đầu tiên của nhà Trần, Trần Thái Tông, lúc ấy lớn hơn vợ 1 tuổi. "Đạo diễn của "hôn sự"cũng như "chính sự" này không ai khác là Trần Thủ Độ.

Lư Chiêu Hoàng được thờ riêng, cũng ở làng Đ́nh Bảng, trong đền Rồng. Năm 2009, ngôi đền cổ đă bị phá hủy để xây mới cho "to đẹp hơn"!

Đền Lư Bát Đế do Lư Thái Tông xây dựng năm 1030 để thờ Lư Thái Tổ (Lư Công Uẩn). Sau này, đền được nhiều lần trùng tu và mở rộng. Lần trùng tu lớn nhất là vào năm 1602 dưới thời vua Lê Kính Tông. Nhà vua cho khắc văn bia ghi lại công đức của các vị vua triều Lư.

Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ngôi đền bị phá hủy hoàn toàn. Măi đến năm 1989, đền mới được khởi công xây dựng lại.

Đến đây phải mở ngoặc để giải thích môt chuyện: máy ảnh của tác giả hết pin cho nên phần tường thuật dựa vào những ǵ anh bạn chụp được, mà anh bạn th́ quen chụp ảnh lưu niệm nên nhiều cảnh có người. Xin độc giả "đối cảnh vô nhân", chỉ xem cảnh mà thôi, đừng để ư tới người.



Ngũ Long Môn: cửa vào đền Đô




Cận cảnh cổng vào, với cánh cửa bằng gỗ, chạm trổ công phu, và mái ngói cong hướng lên trời, tiêu biểu cho kiến trúc cổ miền Bắc.

Bên trong điện là ba ṭa nhà nằm song song theo kiểu chữ Công.



Chính điện. Bên ngoài có lư cắm nhang, hai đèn cổ và tượng hai voi chầu. Tiếp đó là nhà Tiền Tế thờ Lư Thái Tổ. Sau đó là Cổ Pháp điện thờ các ngai vàng, bài vị và tượng của tám vua.




Một trong những tượng vua nhà Lư. Các tượng đều giống nhau ngoại trừ khuôn mặt.



Cách thờ cúng các vua cũng giống như ở đ́nh, chùa. Các vua nhà Lư và nhà Trần đều có mối quan hệ đặc biệt với nhà chùa.

Vua đầu triều Lư Công Uẩn là con nuôi của sư Khánh Vân và học tṛ của sư Vạn Hạnh. Các sử gia tin rằng việc dời đô từ Hoa Lư về Đại La, việc xây thành Thăng Long và nhiều quốc sự quan trọng có sự đóng góp ư kiến của sư Vạn Hạnh.

Phía đông của sân đền có bia dựng năm 1605, do ông Trạng Phùng Khắc Khoan soạn văn bia, ghi công ơn của các vua nhà Lư. Ngoài ra c̣n có điện thờ các quan văn như Tô Hiến Thành, Lư Đạo Thành, điện thờ các quan vơ như Đào Cam Mộc, Lư Thường Kiệt, Lê Phụng Hiểu.



Chiếu dời đô bằng chữ Hán ở bên ngoài tường đền Đô.



Bản dịch Chiếu Dời Đô



Thủy Đ́nh ở trên một hồ bán nguyệt. Hồ này thông với ao Cả và ao này lại thông với sông Tiêu Tương xưa (gợi nhớ nhạc phẩm Ai Về Sông Tương của Thông Đạt).
Kiến trúc gỗ là nhà cổ, nhưng phần c̣n lại như nền, lan can, cầu đá mới được xây dựng.
 


Đ́nh Bảng



Đ́nh làng Đ́nh Bảng.

Trên đường về, chúng tôi ghé thăm ngôi đ́nh của làng Đ́nh Bảng, một trong ba ngôi đ́nh xưa nổi tiếng của xứ Kinh Bắc:

Thứ nhất là đ́nh Đông Khang,
Thứ hai đ́nh Bảng, thứ ba đ́nh Diềm.

Đ́nh Đông Khang đă bị phá hủy, đ́nh Diềm xưa 5 gian, nay c̣n 3 gian.

Đ́nh Bảng (dựng năm 1736) c̣n tương đối nguyên vẹn, và dường như mới được nâng nền (nền và sân lát xi măng trông rất mới).

Ṭa đại đ́nh dài 20m, rộng 14m, và cao 8m; trong đó, phần mái đ́nh chiếm 5,5m.

Làng này xưa gọi là làng Báng, sau đó là Bảng, và tên chữ mang màu sắc Phật giáo là Cổ Pháp.

Đ́nh thờ ba vị thành hoàng là Cao Sơn Đại Vương (thần núi), Thủy Bá Đại Vương (thần nước) và Bách Lệ Đại Vương (thần đất) và các vị hậu thần có công xây dựng làng.



Cổng đ́nh làng cũng mới được xây, trông khá "hoành tráng".
Rất tiếc là cả hai h́nh đều không cho thấy mái đầu đao cong vút, tiêu biểu của đ́nh và chùa miền Bắc.



Chùa Cổ Pháp



Chùa Cổ Pháp tọa lạc tại thôn Nuốn (bây giờ gọi là thôn Đại Đ́nh), xă Tân Hồng, thị xă Từ Sơn. Theo sử sách chùa được dựng vào thế kỷ thứ 8, nhưng vào thập niên 1950 , ngôi chùa cổ đă bị chiến tranh phá hủy. Tương truyền đây là nơi nuôi nấng Lư Công Uẩn.
Bên trong cổng tam quan có một hồ h́nh chữ nhật. Gần đó có một giếng tṛn, là dấu tích chùa xưa. Chùa mới được dựng lại vào năm 1998.



Chánh điện chùa Cổ Pháp.



Trong sân chùa có tượng người dân xứ Kinh Bắc thuở xưa.



Có lẽ đây là các liền anh, liền chị đang cùng nhau hát quan họ. Ngày xưa, quan họ vẫn được hát tại đ́nh, chùa, hai công tŕnh kiến trúc cơ bản nhất của mỗi làng. Bắc Ninh được cả nước biết đến nhờ dân ca quan họ.

Bắc Ninh, Luy Lâu cũng được xem là nơi tiếp nhận Phật giáo đầu tiên từ Ấn Độ, cũng là nơi tiếp nhận văn hóa Hán đầu tiên. V́ thế, không ngạc nhiên ǵ khi thấy những yếu tố của hai nền văn hóa này trong các chuyện cổ tích, trong thần thoại của người Việt với những t́nh tiết huyền hoặc, kỳ quái, như chuyện Phật Mẫu Man Nương sinh ra Tứ Pháp, có liên quan đến sư Khâu Đa La, người Ấn, đến Sĩ Nhiếp, Thái Thú Giao Chỉ thời Bắc thuộc.

Những truyền thuyết về thuở dựng nước, như chuyện về Kinh Dương Vương của đất Kinh Bắc cũng làm người ta bối rối về nguồn gốc dân tộc Việt. Theo câu chuyện này th́ Kinh Dương Vương, tên húy là Lộc Tục, là cháu của vua Thần Nông, con của Đế Minh, là em của Đế Nghi, vua ở miền bắc sông Dương Tử, tức là tổ tiên của người Hoa. Nếu tin như vậy th́ người Việt là em của người Hoa, có bổn phận (theo đạo lư Nho giáo) phải kính nhường ông anh(!). Nhà nước đang chuẩn bị tôn tạo lăng Kinh Dương Vương ở làng Á Lữ, xă Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành.

Kinh Dương Vương sinh ra Sùng Lăm, chính là Lạc Long Quân, thủy tổ của Bách Việt. Chuyện Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh ra trăm trứng lại giống một câu chuyện trong Lục Độ Tập Kinh, và cũng có chi tiết tương đồng với một bản anh hùng ca của Ấn Độ là Mahabharata mà học giả Lê Mạnh Thát đă chỉ ra.

Bắc Ninh cũng là nơi lưu giữ những tên làng mang một từ thôi như làng Ghênh, làng Khe, Nênh, Neo, Keo, Kép, những tên Nôm mà ư nghĩa có lẽ đă đi vào quên lăng.

Bắc Ninh c̣n có các sản phẩm làng nghề như gốm Phù Lăng, tranh khắc gỗ Đông Hồ, và đặc sản thịt chuột Đ́nh Bảng.

Để nhớ về xứ Kinh Bắc, chúng tôi mua vài bức tranh dân gian quen thuộc bán ở chùa Dâu:
 


Chăn trâu thổi sáo



Thầy đồ Cóc



Đám cưới chuột



Trần Ngọc Bảo

 

 

 

art2all.net