|
CHƯƠNG VII GIÁ TRỊ TƯƠNG ĐỐI CỦA NHỮNG GIÁC QUAN
Việc bị mất khứu giác trong vài ngày, cho tôi một ư tưởng rơ ràng hơn, về việc bị mù đột ngột, một cách vô phương cứu chữa. Với một chút nhỏ bé của trí tưởng tượng, tôi biết rồi sẽ ra sao, khi bức màn lớn bỗng nhiên che khuất ánh sáng của ngày, những ngôi sao, và chính bầu trời. Tôi thấy đôi mắt của người mù nhướng lên t́m ánh sáng, khi anh ta sợ hăi cố sức bước đi ṿng quanh, cho đến khi cái trống không bất biến trải ra khắp nơi phía trước anh ta, đóng lên ư thức anh ta con dấu của bóng tối. Việc tạm thời bị mất khứu giác cũng đă chứng minh cho tôi rằng, sự vắng mặt của khứu giác không làm cùn nhụt những quan năng tâm thần và không bóp méo cái nh́n của người ta về thế giới, và do vậy, tôi lư luận rằng, sự mù và điếc không làm hư hỏng cái trật tự nội tại của trí năng. Tôi biết rằng, nếu không có mùi nào cho tôi, th́ tôi vẫn sẽ sở hữu một phần đáng kể của thế giới. Những cái mới mẻ, những cái ngạc nhiên sẽ dồi dào, và những cuộc phiêu lưu sẽ gia tăng trong bóng tối. Trong sự phân loại của tôi về những giác quan, th́ khứu giác hơi thấp hơn thính giác một chút, và xúc giác, th́ cao hơn thị giác rất nhiều. [30] Tôi phát hiện rằng, những họa sĩ và những triết gia đồng ư với tôi về điều này. Diderot nói: “Tôi thấy rằng, trong số những giác quan, th́ con mắt là hời hợt nhất, cái tai là kiêu ngạo nhất, khứu giác là ưa khoái lạc nhất, vị giác là “mê tín” và bốc đồng nhất, xúc giác là sâu xa và có tính triết học nhất.” Một người bạn mà tôi chưa bao giờ gặp, gửi cho tôi một đoạn trích dẫn từ tác phẩm Renaissance in Italy của Symonds: Lorenzo Ghiberti, sau khi mô tả một tác phẩm điêu khắc cổ đại mà ông thấy tại Rome, nói thêm: “Diễn tả sự hoàn hảo của sự học vấn, sự điêu luyện và nghệ thuật được phô bày trong nó, là vượt quá sức mạnh của ngôn ngữ. Những cái đẹp tuyệt vời hơn của nó, không thể khám phá bởi thị giác, nhưng chỉ bởi sự xúc chạm của bàn tay lướt qua nó.” Về một bức tượng cẩm thạch cổ điển khác tại Padua, ông nói: “Nó có rất nhiều cái đẹp đáng yêu, mà một ḿnh đôi mắt không thể hiểu thấu, dù bởi ánh sáng mạnh hay yếu; chỉ có bàn tay, xúc chạm chúng, mới có thể phát hiện ra chúng.” Hăy ch́a tay ra để cảm nhận cái sự lộng lẫy của những tia mặt trời. Hăy ép những bông hoa mềm mại lên má bạn, và cảm nhận sự duyên dáng trong h́nh thể của chúng, sự uyển chuyển tinh tế của h́nh dáng, sự mềm mại và sự tươi mát của chúng. Hăy để cho khuôn mặt bạn phô ra trước những cơn lụt của làn không khí quét qua bầu trời, “hăy hít vào những ngụm của không gian,” hăy kinh ngạc, kinh ngạc trước cái hoạt động không mệt mỏi của gió. Hăy chất nốt nhạc này trên nốt nhạc kia, cái âm nhạc vô hạn vốn tuôn chảy không ngừng nghỉ tới linh hồn bạn từ những vang dội có thể xúc chạm của một ngàn cành cây và của những khối nước đang đổ xuống. Làm thế nào mà thế giới có thể bị héo úa khi xúc giác, cái giác quan sâu xa nhất này về mặt cảm xúc, vẫn trung thành với sự phục vụ của nó? Tôi chắc rằng, nếu một bà tiên ra lệnh cho tôi chọn giữa thị giác và xúc giác, th́ tôi sẽ không ĺa bỏ sự tiếp xúc ấm áp, yêu dấu của những bàn tay con người, hay cái giàu có của h́nh thể, cái cao thượng và phong phú vốn ép vào ḷng bàn tay tôi.
[29] Đối với một người mù và điếc, th́ đây là một phát hiện rất quan trọng. [30] Có đúng như vậy không? Đây là vấn đề lư thú cho các nhà khoa học.
|