Trần Ngọc Bảo

 

Đứng trước ngă tư đường của nghiệp

Phỏng vấn Mathieu Ricard

**))((**

 
Theo luật về nghiệp báo, mọi lựa chọn mà chúng ta thực hiện trong từng giây phút đều có tác động đến số phận của ḿnh. Mathieu Ricard đưa ra một vài hướng dẫn có ích để hướng nghiệp lực đến bến bờ hạnh phúc.

Mathieu Ricard, sinh tại Pháp năm 1946, và được đào tạo thành một nhà nghiên cứu sinh học phân tử ở Viện Pasteur trước khi đổi chiếc áo của pḥng thí nghiệm để lấy chiếc áo của một tu sĩ Phật giáo Tây Tạng năm 1972. Ricard trở thành đệ tử và thị giả cho đại sư Dilgo Kyentse Rinpoche và cùng du phương hoằng hóa với ngài ở các nước Bhutan, Ấn độ, Nepal, và Tây Tạng cho đến khi ngài qua đời vào năm 1991. Ricard là tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng như Lượng Tử và Hoa Sen, Hạnh Phúc: Hướng Dẫn Để Phát Triển Kỹ Năng Quan Trọng Nhất Của Cuộc Sống. Ricard hiện trú tại Tu Viện Shechen ở Nepal.

Tôi có cơ hội gặp gỡ ông trong một chuyến ông ghé qua New York và có dịp nói chuyện với ông về nghiệp, một khái niệm cơ bản của Phật giáo, thường gây tranh luận trong văn hóa phương tây nhưng không được hiểu rơ.

Mark Magill
 

 

Hiện nay nhiều người nghĩ về nghiệp theo kiểu “Tôi đă làm ǵ mà phải chịu hậu quả như thế này?”

Nó ám chỉ đến khái niệm về số phận hay định luật vũ trụ. Đây là một quan niệm xuất phát từ truyền thống Thiên Chúa giáo Do Thái. Trong Phật giáo không hề có khái niệm về một đấng thần linh bên ngoài phán xét hành động của chúng ta và ban thưởng hay trừng phạt.

 

Quan điểm của Phật giáo về vấn đề này như thế nào?

Ở mỗi thời điểm trong cuộc đời của chúng ta, chúng ta đều như đứng trước một ngă tư đường. Chúng ta là kết quả của quá khứ và là kiến trúc sư xây dựng tương lai của chính ḿnh. Nếu các bạn tự hỏi, “Tại sao chuyện này lại xảy đến cho ta?” th́ đó là do quan điểm hạn hẹp của ḿnh. Khi bạn ném một ḥn đá lên trời rồi quên khuấy đi, đến khi nó rơi xuống đầu th́ lại kêu trời, mà đó là điều chúng ta vẫn thường làm. Chúng ta thường h́nh dung rằng những ǵ xảy đến cho ḿnh không dính dáng ǵ đến hành động của ḿnh. Chúng ta thường đặt câu hỏi v́ sao lại như thế này nhưng câu hỏi quan trọng hơn là nên xử lư việc này như thế nào.

Nếu bạn muốn biết về quá khứ của ḿnh th́ chỉ cần nh́n vào hoàn cảnh hiện tại. Nếu bạn muốn biết tương lai th́ hăy nh́n vào tâm trí của ḿnh. Nếu biết rằng số phận của ḿnh hoàn toàn do ḿnh định đoạt th́ vấn đề tính chất của hành động của chúng ta trở thành quan trọng nhất. Đó không phải là một vấn đề vũ trụ hay triết học. Đó hoàn toàn là vấn đề thực tiễn. Điều chính yếu là đừng để rơi vào hoàn cảnh rắc rối như thế nữa.

 

Vậy th́ nghiệp là ǵ?

Đó là một mặt của luật nhân quả liên quan đế trải nghiệm hạnh phúc hay đau khổ của chúng ta, và tùy thuộc vào động cơ hành động của ḿnh. Khi chúng ta thực hiện một hành động, bất kể là như thế nào, điều quan trọng là động cơ của chúng ta.

Chúng ta không thể nào tiên đoán đầy đủ hậu quả của hành động ấy. Nhưng chúng ta chịu trách nhiệm hoàn toàn về động cơ. Tất cả tùy thuộc vào ư định của chúng ta là gây tổn hại hay đem lại lợi ích. Không ai có thể phủ nhận là chúng ta kiểm soát được động cơ của ḿnh, ngoại trừ ḿnh đă nổi điên và mất khả năng suy nghĩ. Một hành động xuất phát từ một đầu óc vị tha, dù người khác nhận thấy nó như thế nào đi nữa th́ nó cũng hợp với đạo lư. Một hành động xuất phát từ ư định gây tổn hại th́ dù bề ngoài trông như thế nào đi nữa cũng không hợp với đạo lư.

Đây là căn bản của đạo lư. Nếu chúng ta không liên hệ hành động với ư định th́ không bao giờ biết cái ǵ đúng cái ǵ sai. Theo quan điểm Phật giáo, chúng tôi nhận định hành vi nào là đúng hay sai tùy thuộc vào việc nó dẫn đến hạnh phúc hay đau khổ. Nó không phải là một giáo điều được lư tưởng hóa về thiện ác xuất phát từ một nơi chốn cao xa nào đó.

 

Vậy c̣n động cơ bị lừa phỉnh th́ sao?

Chúng ta có thể bị lừa phỉnh trong nhận thức về thế giới và về bản chất của đau khổ hay hạnh phúc, nhưng bất cứ ai, dù bị lừa phỉnh hay không, cũng có thể kiểm tra xem ḿnh đang hành động v́ ḷng vị tha hay do ác tâm.

 

Nếu như ư định của ḿnh tốt mà hậu quả xấu th́ sao?

Đó là do ngu si và loạn tưởng tác động đến hành động vị tha. V́ thế cho nên phải phát triển trí tuệ. Đức Phật dạy rằng những ai hiểu thấu đáo về tính không sẽ là người có cái nh́n thấu suốt. Nói cách khác, những người này biết rơ cái ǵ cần làm, điều ǵ phải tránh. Chúng ta có thể chọn lựa phương tiện đúng đắn bởi v́ có thể đoán trước phương hướng những ǵ sẽ xảy ra. Đó là lư do v́ sao chúng tôi nói rằng giáo lư của đức Phật là kết hợp giữa t́nh thương và trí tuệ, kết hợp giữa tính tương duyên với tính không. Một thái độ vị tha là vị tha. Không thể lầm lẫn được. Nhưng nếu thiếu trí tuệ th́ chúng ta có thể hành động nhân ái nhưng dại dột.

 

Vậy th́ tôi làm sao để phán đoán về động cơ của ḿnh?

Ḿnh luôn luôn có thể tự hỏi là hành động của ḿnh có do mục đích ích kỷ hay không. Phải chăng ḿnh hành động v́ t́nh thương, v́ sự bao dung? Do đó có ư thức để tự kiểm tra mọi hành động trong ngày của ḿnh là hết sức quan trọng. Đó là điều, ít nhất là lúc ban đầu, cần phải xác định rơ, và chắc chắn nằm trong ṿng kiểm soát của ḿnh khi ḿnh bắt đầu thực hiện một hành động nào đó.
Và dần dần, bằng cách vun trồng ḷng từ bi và nhân ái thường xuyên chúng ta mới có thể bảo đảm rằng hành động của ḿnh ngày càng mang tính vị tha. Và như tôi đă nói, nếu không quay vào bên trong để quán xét th́ chúng ta có nguy cơ hành động dại dột, thiếu phân biệt rạch ṛi. Cho nên, một lấn nữa, chúng ta thấy rằng ḷng từ bi và trí tuệ cần phải đi đôi với nhau.

 

Ông được đào tạo theo phương pháp khoa học, vậy th́ tại sao ông lại tin rằng nghiệp là có thật?

Trước hết, chúng ta hiện đang nh́n thực tại từ một quan điểm rất hạn chế. Chúng ta ai cũng có kinh nghiệm của chính ḿnh mà tự ḿnh có thể quán xét. Kết quả của sự giận dữ, thù hận, ghen ghét, v.v. là ǵ? Chúng ta cần phải thành khẩn và quán xét một cách sâu sắc. Mặc dầu có rất nhiều bằng chứng thuyết phục liên quan đến kư ức về kiếp trước – như công tŕnh nghiên cứu của Giáo Sư Ian Stevenson, người đă khảo sát hằng trăm trường hợp - giới khoa học vẫn đang đ̣i hỏi điều tra thêm và bằng chứng chắc chắn.

Có ba loại bằng cớ vững chắc được thừa nhận trong giáo lư của đức Phật. Một là bằng chứng trực tiếp. Chẳng hạn như khi bạn thấy lửa, bạn biết đó là lửa. Loại kế đó là suy đoán. Khi bạn thấy khói, bạn biết rằng nếu đi t́m, bạn sẽ t́m thấy lửa. Hai loại thí dụ đầu liên quan đến hiện tượng hiển lộ và hiện tượng bị che khuất một phần. Có một loại hiện tượng thứ ba là loại ẩn dấu rất sâu kín, nằm ngoài khả năng tri giác và t́m ṭi của chúng ta.

Trong trường hợp các hiện tượng ẩn tàng rất sâu kín, chúng ta phải dựa vào bằng chứng của các loại kia. Điều ấy không có nghĩa là chúng ta phải tin bất cứ điều ǵ mà người ta nói với ḿnh. Nhưng trong trường hợp đức Phật, bạn có thể phán đoán hành vi, giáo lư và bất cứ phương diện nào của cuộc đời của ngài mà chúng ta có thể suy xét được. Nếu như Đức Phật hoàn hảo về mọi phương diện, th́ tại sao chỉ với một điểm này thôi chúng ta lại nghĩ rằng ngài có ư định không tốt, lừa phỉnh chúng ta và đưa chúng ta đến chỗ sai lầm? Thế cho nên có thể tin cậy rằng Đức Phật, có vô số phẩm chất đáng tin cậy mà chúng ta có thể nhận thức và suy xét, đă đưa ra những bằng chứng vững chắc khi mô tả những qui luật về nghiệp.

Quí vị có thể nghĩ đó là niềm tin mù quáng. Nhưng khi chúng ta bàn luận về lư thuyết big bang hay về hạt cơ bản hoặc điện tử th́ chúng ta đang làm ǵ? Chúng ta dựa vào bằng chứng do một số nhà khoa học đưa ra, v́ chúng ta tin rằng các nhà khoa học hoạt động độc lập với nhau không thể nào đều là những kẻ lừa đảo. V́ vậy khi họ đồng ư với nhau về điều ǵ th́ chúng ta tin rằng họ đang đưa ra một sự mô tả đúng đắn các qui luật của tự nhiên. Và rồi chúng ta nói, “Được rồi. Chắc là đúng rồi.” Có thể điều họ biết chưa phải là hoàn hảo, nhưng chúng ta tin rằng họ không nói dối hoặc bịa đặt. Chúng ta tin rằng ắt phải có những lư do xác đáng để đưa ra những kết luận như thế, mà bản thân chúng ta hiện giờ không tiếp cận được. Nhưng chúng ta cũng có thể đạt được cái hiểu biết như họ nếu bỏ ra mười năm để học toán và vật lư.

Tương tự như thế, Đức Phật không bao giờ nói, “Đây là một bí mật ngoài tầm tay với của quí vị. Thôi hăy quên đi. Quí vị phải chấp nhận nó thôi.” Thay v́ nói như vậy, ngài nói. “Đừng chấp nhận những ǵ ta nói chỉ v́ ta nói điều ấy. Quí vị có thể kính trọng ta, nhưng hăy tự ḿnh t́m ṭi và khám phá cho ḿnh. C̣n đây là những ǵ ta tự ḿnh chứng nghiệm. Cây cỏ không có tâm trí, chúng sinh hữu tính có tâm trí. Và có nghiệp. Có đời trước. Ta đă phát hiện ra như thế. Quí vị cũng có thể thực chứng điều ấy. Quí vị phải tự nỗ lực để trở thành một người giác ngộ.”

 

Trong nền văn hóa của chúng ta, nhiều người có ác cảm với việc chấp nhận trách nhiệm về số phận xảy ra cho ḿnh, ít ra là ở mức độ mà đạo Phật chủ trương.

Vấn đề này có liên quan đến bản chất của tâm thức. Nếu tâm thức hoàn toàn được sản sinh từ trong bộ năo, th́ chúng ta có thể quên mọi chuyện về nghiệp đi. Nếu không có các trạng thái sinh tồn ở quá khú và tương lai, th́ nghiệp chỉ giới hạn ở những hậu quả ngắn hạn do hành động của chúng ta trong kiếp sống này mà thôi.

Nhưng nếu tâm thức không dựa hoàn toàn vào cơ thể vật lư này, th́ chúng ta có thể xem xét nó trong một bối cảnh rộng lớn hơn nhiều. Như thế th́ chúng ta có thể nghĩ đến các trạng thái sinh tồn trong quá khứ, chúng nó ra sao và ảnh hưởng mà chúng mang theo trong ḍng tâm thức của chúng ta như thế nào. Chúng tác động ra sao đến tâm thức hiện tại và kinh nghiệm hạnh phúc hay đau khổ trong đời sống này của chúng ta?

 

Làm sao mà người ta có thể làm ngơ trước nỗi bất hạnh của người khác v́ cho rằng, “Ôi, đó là nghiệp của y v́ y đă làm thế này thế nọ”?

 Chúng ta có thể nói rằng cuộc sống hiện tại của chúng ta trong hiện tại ra sao là do những hành động trong quá khứ. Nhưng chúng ta không thể nào nói một cách chính xác do những nguyên nhân nào. Đó là lư do v́ sao người phàm phu b́nh thường không thể phán đoán về những người phàm phu. Chỉ có những bậc giác ngộ mới nh́n thấy một cách sâu xa các nguyên nhân của những hành động của một người nào đó.

Về nghiệp, điều quan trọng là chúng ta hiểu được rằng sự tồn sinh của chúng ta là kết quả của những hành động thiện lành trong quá khứ. Cuộc sống của chúng ta không phải đến từ hư vô. Chúng ta đă tích lũy rất nhiều điều tốt lành mới có thể sinh ra làm người, v́ thế chúng ta có thể dùng những khổ đau của ḿnh để phát khởi niềm mong ước được giải thoát. Đó là lư do v́ sao chúng tôi nói rằng đời người là một bữa ăn sau hàng trăm ngày bị đói. Việc hiểu được nghiệp là một yếu tố quan trọng làm cho chúng ta biết thưởng thức cơ hội quí giá của cuộc sống con người thay v́ xem nó là một điều đương nhiên. Ư thức được điều này có thể thúc đẩy chúng ta hướng đến các hành động thiện lành.

 

Phải chăng hành động thiện lành có thể làm thay đổi kinh nghiệm của tâm thức theo một cách nào đó?

Như tôi đă nói, chính chúng ta là những kiến trúc sư cho tương lai của ḿnh. Chúng ta chịu trách nhiệm về chủng loại tái sinh sắp tới và hoàn cảnh sống mà chúng ta sẽ trải nghiệm. Như ông vừa nói đó, chúng ta không nên đánh giá thấp khả năng của tâm trí ḿnh, v́ tâm trí mà chúng ta đang có bây giờ hoặc vị tha hoặc ích kỷ, sẽ h́nh thành nên cách thức chúng ta nhận biết về thế giới và về những trải nghiệm đau khổ hay hạnh phúc trong tương lai.

Chúng ta hăy xem xét thí dụ cổ điển về ly nước. Đối với loài người đó là một thức uống. Đối với loài cá th́ đó là nơi cư trú. Đối với quỷ đói th́ đó là máu mủ. Đối với chư thiên đó là mật hoa. Do tâm thức khác nhau nên nhận thức về cùng một hiện tượng cũng khác nhau. Nó liên quan đến nghiệp chung – tâm thức có cấu tạo như nhau do hành động trong quá khứ. Nhưng v́ nghiệp riêng của chúng ta cho nên chúng ta trải nghiệm các hiện tượng này theo cách khác nhau.

 

C̣n việc thay đổi tâm tư của chúng ta th́ sao?

Đó là vấn đề làm trong sạch tâm tư. Nếu bạn đang bị sự giận dữ dày ṿ th́ bạn nh́n mọi chuyện theo tâm trạng giận dữ ấy. Xung quanh bạn có thể đang có nhiều người dễ thương, đẹp đẽ, phong cảnh nên thơ nhưng nếu đầu óc của bạn ngập tràn oán hận th́ bạn không thể thưởng thức được vẻ đẹp của con người và thiên nhiên đó, và cả thế giới dưới mắt bạn là một nơi xấu xa, đáng ghét.

V́ thế điều quan trọng là phải rèn luyện tâm trí ḿnh. Những đặc điểm của chúng ta – cách nh́n thế giới và nh́n về tâm trí của ḿnh – là kết quả tích lũy của biết bao nhiêu tâm tư và t́nh cảm. Bằng cách chuyển hóa nội dung của những tâm tư, t́nh cảm này, nuôi dưỡng các tâm trạng thiện lành – như tính vị tha và ḷng từ bi – và áp dụng những cách đối trị với những tâm trạng bất thiện – như thù oán, mặc cảm, ganh ghét – chúng ta dần dần mới có thể thay đổi nếp sống, giống như chúng ta học những kỹ năng nghề nghiệp mới vậy.

 

Việc làm sạch tâm trí tác động đến nghiệp như thế nào?

Chúng ta có thể sử dụng việc làm sạch tâm trí để can thiệp vào hậu quả của nghiệp bất thiện trước khi nó chín muồi. Lư do v́ sao chúng ta có thể thay đổi được hậu quả của nghiệp, đó là do không có cái ǵ có tính bất biến. Mọi chuyện đều có nguyên nhân và kết quả. Hoa trái của nghiệp tùy thuộc vào nhân và duyên hay điều kiện. Những thứ này cũng vô thường, và liên hệ với nhau. Thế cho nên bạn có thể tác động vào bất cứ thứ ǵ miễn là trước khi nó xảy ra. Tất nhiên khi mà các bạn đă nếm trải hoa trái của nghiệp rồi th́ đă quá trễ. Nhưng trước khi nó đơm hoa kết quả th́ luôn luôn có thể can thiệp được.

Hăy h́nh dung bạn rải hạt giống đủ loại trên mặt đất. Một nửa là những cây cỏ độc hại và một nửa là hoa trái. Nếu điều kiện thuận lợi – mặt đất ẩm ướt và ánh sáng đầy đủ – th́ các hạt giống có thể trổ thành cây nếu các bạn không can thiệp ǵ cả. Nhưng nếu các bạn chăm sóc khi chúng vừa nảy mầm th́ có thể nhổ đi các cây độc và giúp cho những cây lành lớn lên, và cứ như thế bạn sẽ gặt hái hoa quả tốt lành.

Chúng ta có thể thực hiện “bốn sức mạnh” để ngăn chặn nghiệp quả xấu trước khi chúng chín muồi. Sức mạnh thứ nhất là nhận diện và thừa nhận chúng ta đă làm hành động bất thiện. Khi đă thấy được sự tổn hại mà ḿnh đă gây ra ḿnh phải sinh tâm hối hận. Hối hận có thể là một phương tiện để ư thức về lỗi lầm của ḿnh và nảy sinh ư định không lặp lại nữa. Trái lại, mặc cảm tội lỗi, là một quan điểm bi quan về ḿnh và về tương lai, sẽ có tác dụng chẳng lành. Sức mạnh kế tiếp là cố gắng thực tập cách xóa bỏ những nguyên nhân dẫn chúng ta đến hành động bất thiện. Chúng ta nên thực tập thiền quán – nhằm mục đích hiểu rơ nguyên nhân làm tâm tư rối loạn và hiểu được bản chất của thực tại. Sức mạnh thứ tư là quyết tâm không lặp lại lỗi lầm.

 

Như thế th́ mọi chuyện đều qui về động cơ và hành động.

Động cơ vị tha h́nh thành nên xu hướng và tâm tư thiện lành. Nó cũng làm trong sạch nghiệp quả của chúng ta. Khi chúng ta làm con mắt sáng, chúng ta sẽ thấy chính xác hơn bản chất của tương duyên, tính không của sự tồn sinh, và bản chất của thực tại. Đó là cái nh́n trong sáng. Đó là phương pháp chúng ta thay đổi cách thức mà chúng ta trải nghiệm cuộc sống.

_______________________________________________

Các qui luật của nghiệp  

1. Nghiệp là chắc chắn: Một hành động chắc chắn sẽ đem lại kết quả cụ thể trừ phi nó gặp cản trở. Một hành động thiện lành sẽ dẫn đến hạnh phúc. Một hành động bất thiện cuối cùng sẽ sinh ra khổ đau.

2. Nghiệp gia tăng: Chỉ một hạt giống nhỏ bé cũng sẽ sản sinh ra một cây cao lớn, hạt giống của nghiệp thiện và bất thiện sẽ ngày càng lớn mạnh nếu như không bị cản trở. Các kết quả thiện lành sẽ bị cản trở bởi những biểu hiện oán hận và các hành động bất thiện khác. Các kết quả bất thiện có thể bị cản trở bằng cách làm trong sạch tâm trí.

3. Nghiệp có tính cụ thể: Kết quả của nghiệp sẽ do người tạo nghiệp nhận lănh.

4. Nghiệp không bao giờ mất: Các hạt giống nghiệp không tự ḿnh mất đi khả năng sinh ra cây trái. Nếu không làm trong sạch tâm trí và ngừng các hành động bất thiện th́ các hạt giống nghiệp ấy không bao giờ mất đi tiềm năng sinh trưởng của chúng. Chúng sẽ tiếp tục có sức mạnh mang lại cho chúng ta đau khổ khi hội đủ các điều kiện thích hợp.


MARK MARGILL
____________________________________________
 

Trần Ngọc Bảo dịch từ tạp chí Tricycle số mùa thu năm 2006, tr.44-47
 

art2all.net