Trần Ngọc Bảo

 

THIỀN ĐỊNH - TINH TÚY CỦA PHẬT GIÁO

Thiền sư Ajahn Brahm

 



Đây là bản phiên tả một bài pháp thoại của Ajahn Brahmavamso ở Hội Phật Giáo Tây Úc ngày 4 tháng 2, năm 2000.

Hôm nay tôi muốn nói sâu về bản chất của đạo Phật. Tôi thường thấy trong nhiều sách vở, báo chí những ư tưởng xa lạ được tŕnh bày như là tư tưởng của Phật. Thế cho nên giờ đây tôi muốn chỉ ra tinh túy của giáo lư Phật dạy, thông qua kinh nghiệm chứ không phải qua lư thuyết. 

Vậy th́ đâu là những ǵ không phải là tinh túy của đạo Phật?

 

Tâm lư trị liệu

Tôi biết một số người vẫn nghĩ rằng đạo Phật là một dạng tâm lư trị liệu,  một phương pháp áp dụng những thái độ khôn ngoan, hoặc phương tiện thiện xảo để sống b́nh an hơn trong cuộc đời này. Quả t́nh là kho giáo lư phong phú của Phật chứa đựng nhiều điều có thể giúp người ta sống một cuộc sống ít phiền lụy hơn. Với tâm từ bi và tuệ giác của Phật chúng ta có thể xử lư một cách có hiệu quả những vấn đề của cuộc sống. Khi áp dụng giáo lư có hiệu quả, người ta sinh ra thái độ tự tin cũng như niềm tin rằng đạo Phật thật là  quí báu.

Tôi thường quán chiếu lư do v́ sao người ta thường đến với Hội Phật Giáo vào chiều thứ sáu. Bởi v́ họ rút ra được một điều ǵ đó hữu ích. Những ǵ họ học được giúp họ sống với một phong thái thảnh thơi hơn, có cảm giác thoải mái hơn về chính ḿnh và khoan dung hơn với người khác.Chính v́ thế mà có quan niệm đạo Phật là một loại liệu pháp hiệu nghiệm cho các vấn đề của cuộc đời. Tuy nhiên, đó chưa phải là đạo Phật thật sự, đó chỉ là một hiệu ứng phụ.

 

Triết học

Có người t́nh cờ gặp gỡ đạo Phật và nhận thấy đây là một triết lư kỳ diệu. Sau khi nghe qua một buổi pháp thoại họ có thể ngồi quanh một bàn cà phê và tṛ chuyện hàng mấy tiếng đồng hồ tuy rằng vẫn không hề tiến gần đến chỗ giác ngộ. Thường thường người ta có thể thảo luận những vấn đề rất cao siêu, đầu óc người ta có thể nghĩ ngợi và bàn bạc những đề tài cao cả. Thế rồi họ ra về và ngay khi chiếc xe đầu tiên qua mặt họ liền văng tục, thế là họ đánh mất tất cả.

 

Nghi lễ

Thay v́ nh́n thấy Phật giáo là một triết lư, nhiều người cho rằng đó là một tôn giáo. Các nghi lễ Phật giáo có nhiều ư nghĩa và không nên vứt bỏ đi chỉ v́ có người cho rằng ḿnh đă vượt thoát ra ngoài ṿng nghi lễ. Tôi biết có khi người ta rất là tự hào, thậm chí là kiêu ngạo, và nghĩ rằng họ không cần nghi thức, nghi lễ ǵ cả. Nhưng thật ra nghi lễ có một hiệu ứng tâm lư rất lớn. Chẳng hạn, trong xă hội khi người ta sắp sửa sống chung, người ta tiến hành một lễ cưới v́ rằng qua nghi lễ người ta cảm thấy có một cái ǵ đó xảy ra cho tâm trí, cho trái tim người ta. Có một lời hứa hẹn nào đó khắc ghi trong tâm khảm với một ư thức rằng điều ǵ đó quan trọng đă xảy ra. Trong tang lễ chẳng hạn, những lời kinh cầu nguyện, mặc niệm, điếu văn đều có một ư nghĩa đối với những người tham dự. Các nghi thức giúp người ta chấp nhận một cách trang trọng sự thật là có một người thân vừa qua đời, rằng đây là giây phút từ giă người ấy lần cuối cùng. Thái độ chấp nhận ấy đưa người ta đến chỗ b́nh an.

Tương tự như thế, ở tu viện của chúng tôi, để tha thứ và buông bỏ một lỗi lầm trong quá khứ, chúng tôi tiến hành một nghi thức sám hối. Ở nhà thờ Thiên Chúa giáo người ta có nghi thức xưng tội. Các chi tiết về buổi lễ không quan trọng bằng sự giải tỏa tội lỗi thông qua một nghi thức nào đó. Có ǵ khác nhau nếu như bạn chỉ nói “Ồ, xin lỗi” hay vừa nói lời xin lỗi kèm theo một món quà hay một bó hoa? Có khác không ǵ không nếu như bạn nói rằng “Tôi biết những ǵ tôi đă làm không thể nào tha thứ được, nhưng xin bạn bỏ qua đi cho tôi và cho phép tôi mời bạn một bữa cơm.” Có lẽ lời xin lỗi sẽ có hiệu quả sâu đậm hơn nếu như người ta làm một lễ giải tội đàng hoàng hơn là thốt ra chỉ một vài lời hối lỗi.

Thậm chí nghi thức lạy Phật cũng có một ư nghĩa sâu xa. Đó là một hành vi khiêm tốn. Đó là nói rằng tôi là người chưa giác ngộ nhưng tôi hướng về sự giác ngộ với một tấm ḷng kính trọng. Đó là sự khiêm tốn khi người ta đi đến trường trung học, đến giảng đường đại học. Người ta thừa nhận rằng các giảng viên, giáo sư hiểu biết nhiều hơn họ. Nếu quí vị tranh biện với các giáo sư th́ quí vị sẽ học được điều ǵ đây? Sự khiêm tốn không phải là sự hạ ḿnh làm mất tư cách con người. Đó chỉ là dấu hiệu tôn trọng những phẩm chất nào đó trong những người khác. Đôi khi sự lễ lạy, nếu được thực hành trong chánh niệm sẽ là một nghi lễ, nghi thức làm phát sinh niềm vui lớn. V́ tôi là tu sĩ nhiều người lễ bái tôi và tôi cũng lễ bái nhiều người. Luôn luôn có người quí vị phải lễ bái dù quí vị có cao niên đến đâu. Ít ra cũng luôn luôn có đức Phật bên trên khiến cho ḿnh cần phải cúi đầu lễ bái. Tôi lấy làm thích thú với việc lễ bái. Khi có một vị tôn túc, việc lễ bái giúp khắc phục ư niệm về tự ngă và phê phán, và lại càng nên làm khi khi ta bái lạy một vị tu sĩ tu hành không lấy ǵ làm giỏi giang (một vị đạo cao đức trọng th́ dễ lễ bái hơn nhiều). Đây là một nghi thức nếu tiến hành đúng đắn sẽ sinh ra nhiều lợi ích. Ít ra, như tôi thường nói ở tu viện, rằng lễ lạy giúp làm chắc cơ bụng và quí vị được giảm béo. Dĩ nhiên là hiệu quả th́ không chỉ có thế.

Thế cho nên các nghi lễ Phật giáo có ích lợi, nhưng đạo Phật th́ có ư nghĩa nhiều hơn thế.

 

Hành thiền và giác ngộ

Khi quí vị hỏi đạo Phật là ǵ thật khó mà trả lời chỉ trong một vài lời. Quí vị phải trở về xem xét quá tŕnh thực hành th́ền định v́ đó là then chốt, là cốt lơi, là trái tim của đạo Phật. Như mọi người đều biết, đức Phật là một người b́nh thường đạt đến giác ngộ khi thiền định dưới một gốc cây. Cách đây ít phút quí vị cũng đă thực hành như thế trong khoảng nửa giờ. Tại sao quí vị chưa giác ngộ? Sự giác ngộ của đức Phật quả thật là đă tạo ra một tôn giáo, ấy là Phật giáo. Đó chính là ư nghĩa, là trung tâm điểm của đạo Phật. Đạo Phật là đạo giác ngộ, chứ không phải chỉ là một lối sống lành mạnh, hay một lối tư duy khôn ngoan, hay học Phật là để nói chuyện một cách thông thái quanh bàn cà-phê với bạn bè. Xin nhắc lại một lần nữa, đạo Phật là con đường đưa đến giác ngộ.

Trước hết quí vị cần có vài cảm nhận hay khái niệm về sự giác ngộ. Thỉnh thoảng có người đến nói với tôi rằng “Thưa thầy, con ngộ rồi.” Hoặc viết thư cám ơn nói rằng, “Nhờ sự dạy dỗ của thầy bây giờ con đă ngộ.” Có khi người ta ca tụng các vị thầy tâm linh của họ rằng đó là những bậc giác ngộ mà không hiểu rơ từ ấy có nghĩa là ǵ. Chữ giác ngộ có nghĩa là khai mở trí tuệ, một sự hiểu biết làm chấm dứt mọi khổ đau. Người nào chưa hết đau khổ th́ vị ấy chưa tới bờ giác ngộ. Nếu một người c̣n đau khổ có nghĩa là họ chưa ĺa bỏ được các dính mắc. Người c̣n lo âu về của cải, khóc than về cái chết của một người thân, người vẫn c̣n nổi giận, vẫn c̣n vui thú dục lạc, người ấy chưa giác ngộ.  Giác ngộ có nghĩa là đă vượt thoát ra ngoài và tự do khỏi những thứ ấy.

Đôi khi một vị tỳ kheo nói như thế có thể làm cho người ta e ngại hay xa lánh họ. Các tu sĩ có vẻ giống những người "wowsers" [1] (sùng đạo), theo kiểu nói của người Úc. Họ không đi xem phim, không hành lạc, không có mối quan hệ nào, không đi nghỉ mát, không có thú vui nào. Thật là một mớ những wowsers! Nhưng điều thú vị, như nhiều người để ư, rằng một số người b́nh an, thảnh thơi nhất trong số những người quí vị gặp là những sư thầy, sư cô vẫn đến ngồi đây và giảng pháp vào thứ sáu. Các tu sĩ rất khác với những wowsers, và lư do là v́ các vị ấy có được một niềm hạnh phúc mà đức Phật đă chỉ bày cho họ. Mỗi người trong quí vị đều có thể nếm mùi vị hạnh phúc đó khi quí vị bắt đầu thực tập thiền.

 

Buông bỏ

Đức Phật dạy rằng dính mắc là nguyên nhân đưa đến khổ đau và buông bỏ là nguyên nhân đưa đến hạnh phúc và là con đường đi đến giác ngộ. Nhiều người đă hỏi buông bỏ là ǵ? Tại sao phải buông bỏ? Đây là một câu hỏi khó trả lời và không thể trả lời bằng lời nói. Thay v́ trả lời tôi thường nói: “Bây giờ đă đến giờ thiền tọa, quí vị hăy ngồi xếp chân, an trú trong hiện tại,” bởi v́ đây là cách dạy người ta buông bỏ. Ngoài ra, giờ phút cuối của buổi thiền tập cũng không kém phần quan trọng. Quí vị hăy tự hỏi, “Ḿnh cảm thấy như thế nào?” “ Ḿnh đă thực tập ra sao và tại sao như thế?” “Nguyên nhân dẫn đến t́nh trạng ấy là ǵ?”

Người ta ngồi thiền là v́ vui, thật thế. Người ta không thực tập để “đạt được một cái ǵ,” mặc dầu khi ngồi thiền quí vị đạt được nhiều lợi ích, chẳng hạn cải thiện sức khỏe và giảm căng thẳng trong cuộc sống. Qua việc tập thiền quí vị có ḷng khoan dung hơn, ít giận dữ hơn.  Nhưng có cái ǵ đó hơn thế nữa – đó là niềm vui đơn thuần sinh ra từ thiền tập! Đây cũng là nguyên nhân khiến tôi đến với đạo Phật hồi c̣n trẻ. Đọc sách về thiền cũng vui nhưng chưa đủ. Chính khi tôi thực tập tôi cảm thấy b́nh an, rất thảnh thơi, thảnh thơi tới độ không ngờ cho nên tôi nhận ra đây là kinh nghiệm sâu sắc nhất của cuộc đời tôi. Tôi muốn trải nghiệm nó lần nữa. Tôi muốn xem xét kinh nghiệm ấy lần nữa. Tại sao? Tại v́ một kinh nghiệm thiền tập sâu sắc có giá trị hơn ngàn lời nói, ngàn cuộc thảo luận hay sách vở hoặc lư thuyết. Những ǵ quí vị đọc trong sách là kinh nghiệm của người khác, không phải của quí vị. Đó chỉ là lời nói. Những lời ấy có thể gây cảm hứng, nhưng kinh nghiệm thật sự đem lại sự phấn khởi hơn. Nó thật sự làm trái đất rúng động v́ nó làm sụp đổ mọi thứ mà quí vị bấy lâu vẫn nương tựa vào. Bằng con đường thực tập quí vị mới thật sự hiểu buông bỏ là ǵ.

 

Nh́n nhận, tha thứ và buông bỏ (NN, TT, BB)

Nếu người nào gặp khó khăn trong khi thiền tập th́ đó là do quí vị chưa học cách buông bỏ. Tại sao chúng ta không buông bỏ được những thứ đơn giản như quá khứ và tương lai? Tại sao chúng ta quá quan tâm đến những ǵ người khác nói về chúng ta hay gây ra cho chúng ta ngày hôm nay? Càng suy nghĩ về những thứ đó th́ càng ngu ngốc làm sao.  Quí vị biết đấy, cổ nhân đă từng nói, “Khi một người nào đó gọi quí vị là thằng ngốc th́ khi ḿnh hồi tưởng bao nhiêu lần th́ ḿnh bị mắng là ngốc bấy nhiều lần." Nếu quí vị buông bỏ ngay, quí vị sẽ không bao giờ nghĩ đến nữa. Người ta chỉ mắng quí vị nhiều lắm là một lần mà thôi. Thế là xong. Thế là hết. Quí vị được tự do.

Tại sao chúng ta tự giam hăm ḿnh vào quá khứ? Tại sao ḿnh không buông bỏ nó được? Quí vị có thật sự muốn giải thoát? Vậy th́ hăy nh́n nhận, tha thứ và buông bỏ, mà chúng tôi gọi ở Úc là thần chú "AFL" [2] (acknowledge, forgive and let go) – nh́n nhận, tha thứ, buông bỏ bất cứ thứ ǵ đă làm tổn thương quí vị, điều mà người nào đó đă nói hay làm, hay cuộc đời đă gây ra cho quí vị. Chẳng hạn, một người nào đó trong gia đ́nh vừa qua đời, quí vị thường cố từ chối không chấp nhận sự thật đó, quí vị nghĩ rằng lẽ ra người ấy không nên ra đi sớm như thế. Hoặc là quí vị vừa bị mất việc và quí vị cứ suy nghĩ không ngừng rằng đó là điều lẽ ra không nên xảy ra cho ḿnh. Hoặc là một việc ǵ đó bị thất bại và quí vị bị ám ảnh bởi ư nghĩ rằng đó là một sự bất công. Quí vị có thể tự đóng đinh ḿnh trên cây thập giá  suốt phần đời c̣n lại nếu muốn nhưng không ai bắt quí vị phải làm như vậy. Thay vào đó quí vị có thể nh́n nhận, tha thứ và học hỏi từ kinh nghiệm này. Buông bỏ cũng có nghĩa là tha thứ. Buông bỏ làm cho tương lai có thể tiếp diễn một cách tự do, không bị ràng buộc bởi quá khứ.

Gần đây tôi có cơ hội tiếp xúc với cộng đồng Kampuchia ở Perth, là một cộng đồng theo đạo Phật. Theo truyền thống bất cứ khi nào gặp rắc rối họ đều với các nhà sư. Họ đă làm như thế hàng thế kỷ nay. Tu viện là một trung tâm xă hội, trung tâm tôn giáo, và trung tâm tư vấn của cộng đồng. Khi các ông chồng căi cọ với vợ họ chạy đến tu viện.

Hồi c̣n là một sư chú ở Thái Lan, tôi cũng đă gặp những trường hợp tương tự. Một hôm có một người đến gặp tôi và nói “Thưa thầy cho phép con ở lại trong tu viện vài hôm.” Tôi nghĩ anh ta muốn học thiền cho nên hỏi, “Anh muốn tập thiền ư?” “Thưa thầy, không phải. Lư do con muốn ở lại đây là con vừa căi nhau với vợ.” Thế là anh ta ở lại. Bốn hôm sau anh ta đến gặp tôi và nói, “Con thấy trong ḷng yên ổn rồi, con xin phép về nhà.” Thật là một cách xử thế khôn ngoan. Thay v́ đi đến quán bar và uống rượu say, thay v́ đi gặp các bạn thân và kể lễ bao điều xấu xa mà ḿnh nghĩ vợ đă làm và làm gia tăng mối hiềm khích và nỗi bực dọc, anh ta đi đến ở cùng các sư, những người không bao giờ nói ǵ về vợ anh ta, những người luôn nhân hậu và b́nh an. Trong môi trường sống yên tĩnh, nhẹ nhàng đó anh ta suy ngẫm về những điều đă làm và sau một thời gian anh ta thấy trong người khỏe khoắn hơn. Chùa chiền, tu viện đôi khi đóng vài tṛ là trung tâm tư vấn, hay trại tỵ nạn là như thế đó, nói cho đúng th́ đó là nơi để thiên hạ đến để buông bỏ các vấn đề của ḿnh. Như vậy có tốt hơn là cứ nghĩ ngợi quanh quẩn về quá khứ, nhất là khi chúng ta nổi giận với một việc đă qua đi?  Khi chúng ta làm gia tăng sự bực bội th́ chúng ta có thể nào nh́n thấy thực tại như nó đang diễn ra? Hay chúng ta đang nh́n sự vật qua lăng kính của sự tức giận, nh́n thấy lỗi chỉ ở trong người khác, chỉ nghĩ đến những điều tồi tệ người khác đă gây ra cho ḿnh, không bao giờ thấy được bức tranh toàn cảnh?

Một trong những điều tôi để ư về cộng đồng người Kampuchia này là tất cả đều là nạn nhân dưới thời Pôn-pốt. Tôi biết một người đàn ông có vợ bị bắn ngay trước mặt anh ta v́ ăn cắp một trái xoài. Chị ta đói quá cho nên hái một trái xoài. Một cán bộ Khme Đỏ thấy được, anh ta rút súng bắn ngay vào đầu chị ta, không cần xét xử. Khi anh này kể cho tôi nghe câu chuyện ấy, tôi nh́n vào mặt anh ta và những động tác cơ thể, thật kỳ diệu là anh ta không hề tỏ ra giận dữ, thù hận hay đau khổ. Có một sự chấp nhận lặng lẽ. Câu chuyện không nên xảy ra như thế, nhưng mà nó đă xảy ra.

Buông bỏ quá khứ để chúng ta có thể tiếp xúc với hiện tại và tự do trong tương lai. Tại sao chúng ta cứ luôn luôn mang nặng quá khứ? Dính mắc với quá khứ không phải là một lư thuyết xa xôi, đó là một thực tế. Chúng ta có thể nói “Ồ! Tôi chẳng có dính mắc ǵ cả.” hay nói, “Tôi rất vô tư, không hề dính mắc với cái ǵ.” Nghe qua ḿnh thấy rất hay, rất thông minh, nhưng chẳng có giá trị ǵ. Quí vị biết là ḿnh dính mắc khi ḿnh không thể nào buông bỏ những điều ḿnh cho là quan trọng, những điều gây cho ḿnh khổ đau, làm cho ḿnh mất tự tại. Dính mắc chính là sợi dây xiềng xích với những quả cầu buộc quanh chân ḿnh.  Chẳng có ai buộc cả. Ai cũng có ch́a khóa để mở và trả tự do cho ḿnh nhưng lại không dùng. Tại sao chúng ta tự hạn chế ḿnh như vậy và tại sao chúng ta không thể buông bỏ tương lai, buông tất cả những lo âu? Quí vị có lo lắng về những ǵ sẽ xảy ra vào ngày mai hay tuần sau hay không? Tại sao lại làm như thế? Bao nhiêu lần quí vị đă lo lắng trước một bài kiểm tra, một kỳ thi, một lần đi khám bệnh, đi nha sĩ? Bạn có thể lo lắng đến phát bệnh và khi đă sẵn sàng để đi đến nha sĩ th́ mới nhớ ra ḿnh đă hủy cái hẹn đó rồi và bây giờ không cần phải đi nữa!

Trên thực tế mọi điều sẽ không bao giờ xảy ra như ḿnh dự đoán. Quí vị cũng đă biết  rằng tương lai không thấy trước được, vậy th́ v́ sao phải lo âu về nó? Chúng ta chẳng bao giờ biết được việc ǵ sẽ xảy ra trong giây phút kế tiếp. Khi buông bỏ được quá khứ và tương lai, ta thấy được con đường dẫn đến tịch tĩnh. Lúc đó chúng ta bắt đầu biết thế nào là b́nh an, tự do, tự tại.

Có những dấu hiệu cho thấy ḿnh đă đi đến chỗ giác ngộ. Đó là thấy được các dính mắc của chúng ta có nguồn gốc từ ngu si. Chúng ta thật sự không cần phải như thế. Khi chúng ta thiền quán càng sâu, chúng ta buông bỏ càng nhiều. Buông bỏ càng nhiều, chúng ta càng cảm thấy an lạc. V́ thế cho nên đức Phật gọi con đường này là con đường tu tập tuần tự. Đó là con đường dẫn người ta đi từng bước, và mỗi bước đều có lợi lạc, có phần thưởng. Đó là lư do v́ sao đây là con đường vui và những ǵ đạt được trên đường làm chúng ta vui hơn và phần thưởng mỗi lúc đều có giá trị cao hơn. Thậm chí chỉ cần đi một bước đầu tiên quí vị sẽ nếm được niềm vui.

Tôi vẫn c̣n nhớ lần đầu tiên tôi thực tập thiền. Đó là ở trong pḥng Wordsworth, ở Kings’ College, Đại Học Cambridge. Trước đó tôi chưa bao giờ tập thiền, cho nên tôi chỉ ngồi xuống trong năm mười phút ǵ đó với những người bạn cùng lớp. Tuy ngồi chỉ trong ṿng mười phút tôi cảm thấy rất dễ chịu. Tôi vẫn c̣n nhớ cảm giác ấy. Có một âm thanh ǵ đó vang vọng trong tôi và bảo tôi rằng đây là con đường dẫn tới điều kỳ diệu. Trước đây tôi vẫn tranh luận với bạn bè quanh ly cà-phê hay ly bia về đủ các loại triết học, nhưng các cuộc tranh luận ấy cuối cùng chỉ đưa tới chỗ căi nhau, và chẳng làm ai hạnh phúc hơn. Thậm chí là những giáo sư tầm cỡ trong trường mà chúng tôi biết rơ dường như cũng chẳng có hạnh phúc ǵ. Đó là một trong những lư do làm cho tôi không c̣n tiếp tục con đường học thuật. Họ là những người rất giỏi trong lĩnh vực chuyên môn của ḿnh, nhưng ngoài môn học đó, họ cũng ngu si giống như những người tầm thường khác. Họ cũng tranh căi, cũng lo âu và căng thẳng như bao người khác. Và điều đó làm cho tôi bị choáng. Tôi tự hỏi v́ sao những giáo sư đại học thông minh, danh tiếng như thế mà lại chẳng có hạnh phúc. V́ sao thông minh, tài giỏi vẫn không đem lại hạnh phúc cho con người? Tôi  muốn nói đến hạnh phúc trọn vẹn, hài  ḷng thật sự và an lạc sâu sắc.

 

Hài ḷng và an lạc thật sự

Người đầu tiên mà tôi gặp có được sự hài ḷng và an lạc thật sự là vị thầy của tôi ở Thái Lan, thầy Ajahn Chah. Có điều ǵ đó kỳ diệu ở trong con người này. Tôi nh́n thầy và tự nhủ, “Ḿnh muốn được như thế, muốn có sự hiểu biết và b́nh an như thế.” Người ta đến từ khắp nơi trên thế giới để gặp thầy. Người ta đến không chỉ đơn thuần v́ thầy là một ông thầy tu nên người ta phải tỏ ra khiêm hạ, hay phải tán tụng. Có người đến với mục đích tranh luận, cố bắt bẻ hay thậm chí để la hét một điều ǵ đó.  Tôi c̣n nhớ một câu chuyện về lần đầu tiên thầy sang nước Anh cùng với Ajahn Sumedho cách đây chừng hai mươi năm. Trong khi thầy đi khất thực xung quanh vùng Hampstead th́ có một tay côn đồ chợt nh́n thấy. Hắn tiến tới ông thầy tu ăn mặc kiểu châu Á kỳ cục này và tung ra một quả đấm ngay mũi thầy nhưng bị hụt, rồi hắn tung một cú đá, cũng hụt nốt. Dường như hắn muốn nắm lấy bộ áo quần kỳ dị này và quấn ông thầy tu nhỏ bé vào bên trong. Ajahn Chah không hề biết là ḿnh sắp bị đánh, v́ thầy luôn luôn b́nh thản, tự tại, cũng chẳng hề tỏ ra giận dữ chút nào. Sau đó thầy nói nước Anh là một nơi chốn tuyệt vời và sau này thầy muốn gửi các thầy lớn qua đây để tự kiểm tra. Về phần thầy, thầy luôn luôn có tâm buông xả.

Thật dễ nói “Tôi đă giác ngộ,” nhưng khi có chuyện như thế xảy ra th́ có lẽ quí vị đă bỏ chạy cả cây số. Cũng ở trong vùng Hamstead này lúc ấy có một ông thầy tu đi dạo vào buổi chiều và t́nh cờ đi ngang qua một quán rượu. Ông thầy ấy không biết ngày hôm ấy có một trận đấu bóng đá giữa đội Anh và đội Xcốt-len. Trần đấu đă xong và các cổ động viên Xcốt-len đang uống rượu trong đó. Lúc này tivi đang chiếu một phim vơ thuật trong đó có một ông thầy tu hồi nhỏ được gọi là “châu chấu”. Các cổ động viên say bí tỉ này nh́n ra cửa sổ và la lên, “Ô ḱa, châu chấu kia ḱa!” Và ông thầy tu kia nghe tiếng người  la hét và chạy đuổi liền bỏ chạy. Họ cùng nhau đuổi theo ông thầy này về tới tu viện. Ông “châu chấu” chạy thục mạng nhưng cũng không thoát. Nếu quí vị có thái độ buông bỏ như thầy Ajahn Chah đă thể hiện ở Hampstead th́ quí vị biết ḿnh đang tiến đến chỗ giác ngộ.

 

Một con đường tuần tự

Cốt tủy của đạo Phật là con đường tuần tự, quí vị bước từng bước và đạt kết quả. Có người nói rằng bạn không nên tập thiền để đạt được kết quả. Đó chỉ là một cách nói mà thôi. Quí vị cứ tập thiền để đạt kết quả đi! Hành thiền để có được niềm vui, có được sự b́nh an, để được giác ngộ mỗi lúc một ít. Nhưng cũng đừng nôn nóng đạt kết quả. Một trong những vấn đề mà người phương Tây thường gặp đó là một khi đặt ra mục tiêu rồi họ thường hay nôn nóng. Thế rồi th́ họ cảm thấy thất vọng, chán nản, giận dữ. Họ không bỏ ra đủ thời gian để thực tập, đủ thời gian để đi tới chỗ giác ngộ. Công việc này đ̣i hỏi nhiều thời gian, có khi mất vài kiếp, do đó hăy kiên nhẫn. Cứ mỗi bước chân đi quí vị đều có gặt hái một ít ǵ đó. Cứ buông bỏ đi một ít, quí vị được một ít tự do và an lạc. Buông bỏ nhiều quí vị sẽ cảm thấy hỷ lạc. Ở tu viện của chúng tôi mọi người đều thực hành như thế. Tôi khuyến khích các thiền sinh nhắm đến các giai đoạn buông bỏ để đạt được trạng thái gọi là định - Jhana.

 

Các tầng lớp định – Jhanas

Mọi người đều muốn có hỷ lạc, và Jhanas là cách để có được hỷ lạc, tôi muốn nói là chân hỷ lạc, hay hạnh phúc thật sự, hạnh phúc sâu xa. Tuy nhiên các trạng thái này thường không kéo dài lâu, chỉ một vài tiếng đồng hồ, nhưng cũng đủ quí giá lắm rồi. Hỷ lạc xuất hiện thông qua buông xả, đặc biệt là buông xả ư muốn, lựa chọn, kiểm soát. Phải đạt đến đây người ta mới hiểu v́ sao hỷ lạc xuất hiện. Qua kinh nghiệm như thế quí vị mới hiểu rằng càng kiểm soát, quí vị càng tham ái, dính mắc, và càng dính mắc quí vị sẽ càng ít an lạc. Trái lại, quí vị càng buông bỏ, xả ly, quí vị càng được giải thoát và càng tăng thêm niềm hỷ lạc.  Đây chính là một giáo lư rất sâu sắc, sâu hơn những ǵ quí vị đọc trong sách hay nghe qua các cuộc nói chuyện và chắc chắn là lợi ích hơn nhiều so với các cuộc đàm luận quanh bàn cà-phê. Quí vị thể nghiệm một điều ǵ đó. Và kinh nghiệm ấy đi gần với tinh túy của giáo lư đạo Phật mà người ta hay gọi là thần bí. Bản thân quí vị cần tự trải nghiệm lấy. Đặc biệt là quí vị thấy cần buông xả “con người điều khiển”, “con người hành động”. Đây chính là vấn đề chính yếu của con người. Chúng ta không thể nào ngừng can thiệp và làm rối rắm t́nh h́nh, trong khi điều cần thiết là cứ để mặc th́ lại không làm. Chúng ta chỉ làm mọi chuyện rối rắm thêm thôi. Tại sao quí vị không thư giăn và thưởng thức niềm hỷ lạc mà cứ phải làm một cái ǵ đó?

Thật ra cũng khó mà dừng lại trong khi thiền tập, nhưng hễ dừng lại được th́ mới có phần thưởng, có niềm vui. Khi buông xả được ư chí, buông bỏ được sự điều khiển, ngừng nói chuyện với chính ḿnh, quí vị đạt được sự tĩnh lặng ở bên trong. Có bao nhiêu người trong quí vị cảm thấy chán ngán với tiềng ồn ào luôn luôn vang lên trong đầu? Có bao nhiêu người trong quí vị ban đêm không thể nào ngủ được vào lúc không có tiếng ồn nào từ phía hàng xóm mà chính là tiếng ồn vang lên từ giữa hai tai ḿnh? Nào là hồi tưởng, rồi lại âu lo, rồi lại suy nghĩ. Đây chính là vấn đề của nhân loại. Khi cần suy nghĩ th́ lại không suy nghĩ cho thật rơ rang. Khi cần dừng lại th́ ta lại cứ suy nghĩ miên man. Khi chúng ta học thiền, chúng ta hiểu được làm sao đạt được trạng thái cân bằng này, chúng ta học cách buông xả. Vậy th́ giờ đây chúng ta biết cách buông bỏ mọi ư tưởng. Đó chỉ là những lời b́nh phẩm, những lời mô tả. Giờ th́ ta biết sự khác biệt giữa tư tưởng và thực tế, ví dụ như, đọc một cuốn sách về thành phố New York và đi du lịch đến thành phố New York. Cái nào là cái thực? Khi quí vị đến đó quí vị hít thở không khí, cảm nhận mùi vị, tri giác những ǵ mà ḿnh không thể cảm nhận qua sách vỡ mà cũng không thể viết ra được. Sự thật luôn luôn im lặng. Lời nói không diễn tả được sự thật.

 

Khi thân thể biến mất

Hăy nhớ đến “những kẻ lạm dụng tín nhiệm”. Những người này có thể bán cho quí vị bất cứ thứ ǵ ! Có một kẻ như thế hiện đang sống trong tâm của quí vị, và quí vị tin mọi lời hắn nói! Tên của hắn là Suy Nghĩ. Khi buông bỏ tiếng nói bên trong đó, quí vị có được sự yên tĩnh và có hỷ lạc. Khi buông bỏ mọi ư nghĩ để chỉ c̣n chú ư đến hơi thở quí vị có hạnh phúc nhiều hơn. Khi buông bỏ thân thể, năm giác quan biến mất th́ quí vị trải nghiệm một sự hạnh phúc lớn lao. Đây chính là giáo lư nguyên thủy của đạo Phật. Sắc, thanh, hương, vị, xúc hoàn toàn biến mất. Nó giống như ở trong một gian pḥng cách âm nhưng thú vị hơn. Nhưng đó không phải chỉ là sự yên lặng, mà quí vị không nghe ǵ hết. Đó không phải là bóng tối, mà là quí vị không thấy ǵ cả. Nó không phải là cảm giác an lạc trong thân mà là không có thân thể nào cả.

Khi thân thể biến mất người ta cảm thấy rất tuyệt. Quí vị biết đấy, có những người trải nghiệm được trạng thái thoát ra ngoài thân thể. Khi thân chết đi ai cũng có kinh nghiệm ấy, họ thoát ra khỏi thân thể. Và một trong những điều người ta sẽ nói là thật là yên tĩnh làm sao, đẹp đẽ làm sao, kỳ diệu làm sao. Điều tương tự cũng xảy ra khi trong thiền quán  khi thân thể biến mất. Thật là tĩnh lặng, đẹp đẽ, và sung sướng khi được tự do thoát khỏi thân. Cái ǵ c̣n lại? Ở đây không c̣n sắc, hương, vị, xúc. Đây là trạng thái thiền sâu sắc mà đức Phật gọi là định. Khi thân biến mất cái c̣n lại chính là tâm.

Hôm kia tôi đưa ra một sự ví von cho một tỳ kheo. Hăy h́nh dung một ông vua mặc một bộ quần áo rộng, lại thêm áo khoác ngoài, quanh cổ quấn khăn, rồi đầu lại c̣n đội mũ và mang giày. Chúng ta không thể nh́n thấy ông vua thật sự mà chỉ thấy áo quần. Tâm ta cũng vậy. Nó bị ngăn che bởi sắc, thanh, hương, vị và xúc. Thế nên người ta không biết. Người ta chỉ biết các thứ ngăn che. Khi nh́n đức vua người ta chỉ thấy áo quần và các thứ ngài mặc, đội. Người ta chẳng biết ai sống bên trong các thứ quần áo đó. Không ngạc nhiên ǵ khi người ta bối rối không hiểu sự sống là cái ǵ, tâm trí là ǵ, cái ǵ nằm ở bên trong, chúng ta tới từ đâu? Tại sao? Ḿnh có nhiệm vụ làm ǵ trong cuộc đời? Khi năm giác quan biến mất cũng giống như khi cởi hết áo quần các thứ cho vua và thấy được ông ấy thật sự ra sao, cái ǵ thật sự biểu hiện, ai nghe lời nói, ai nh́n thấy, ai cảm nhận, đây là ai. Khi năm giác quan biến mất, quí vị tiến rất gần đến câu trả lời của tất cả các câu hỏi này.

Khi hành thiền sâu sắc cái mà quí vị thấy chúng ta gọi là “tâm” (tiếng Pali gọi là Citta. Đức Phật sử dụng cách ví sau đây. Vào một đêm trăng tṛn có một đám mây. Quí vị không nh́n thấy ǵ hết. Nhưng thỉnh thoảng đám mây trở nên mỏng hơn, quí vị thấy một vừng sáng. Quí vị biết có cái ǵ ở đó. Trong thiền ví như khi quí vị bắt đầu đi vào trạng thái định. Quí vị biết có cái ǵ đó nhưng không thấy rơ. Vẫn c̣n “quần áo” ngăn che. Quí vị vẫn c̣n suy nghĩ, vẫn c̣n hành động, cảm nhận về thân thể hoặc nghe âm thanh. Nhưng có lúc, đây cũng là sự so sánh của đức Phật, mặt trăng thoát khỏi đám mây và trên bầu trời đêm trong sáng quí vị có thể thấy được mặt trăng rực rỡ như một cái đĩa giữa lưng trời và quí vị biết đó là mặt trăng. Mặt trăng có mặt ở đó, rất thực, chứ không c̣n là h́nh ảnh qua lớp mây. Đây cũng giống như khi hành thiền quí vị trông thấy tâm. Quí vị biết rằng đó thực là tâm, không phải là h́nh ảnh trong trí óc của ḿnh. Quí vị thấy tâm, quí vị biết tâm. Đức Phật nói rằng tâm được giải thoát rất đẹp, rất sáng và tỏa rạng. Đây không chỉ là kinh nghiệm tràn đầy hỷ lạc mà c̣n là một kinh nghiệm rất có ư nghĩa.

Có bao nhiêu người đă từng nghe đến sự tái sinh mà vẫn không tin? Sự tái sinh diễn ra như thế nào? Chắc chắn rằng thân không thể nào tái sinh. Đây là lư do khi người ta hỏi tôi thầy đi đâu khi thầy chết, tôi trả lời, “Một trong hai nơi, "Fremantle hoặc Karrakatta", đó là nơi xác thân đi đến! [3] Nhưng tâm sẽ đi đâu? Đôi khi người ta thật ngu si, họ nghĩ rằng chỉ có thân, không có tâm. Thế nên khi thân này bị thiêu đi hoặc bị chôn đi người ta nghĩ thế là hết, mọi chuyện chấm dứt. Cách duy nhất để có thể tranh luận với quan điểm này là quí vị phải thực hành thiền quán như đức Phật đă làm dưới cội bồ đề. Rồi quí vị sẽ thấy tâm trong một ư thức trong sáng – không phải trong trạng thái hôn trầm hay thôi miên – mà trong một trạng thái tỉnh thức rơ ràng. Đây chính là biết tâm.

 

Biết tâm

Khi quí vị nhận biết tâm, quí vị tự ḿnh thấy tâm ấy th́ một trong những kết quả là quí vị nhận được là biết rơ tâm độc lập với thân. Độc lập có nghĩa là khi thân tan ră và chết đi, khi nó bị thiêu hay chôn, hay dù cho nó bị hủy hoại bằng cách nào đi nữa sau khi chết th́ vẫn không ảnh hưởng ǵ đến tâm. Quí vị biết điều này v́ quí vị thấy được bản chất của tâm. Cái tâm ấy sẽ siêu việt cái chết của thân. Quí vị sẽ tự ḿnh nhận ra rằng sự sống này ngoài thân xác vật chất mà quí vị gọi là tôi này c̣n có một cái ǵ đó. Thứ hai là quí vị nhận ra rằng cái tâm ấy chẳng khác ǵ ngoài cái quá tŕnh tâm thức hiện hữu trong mọi chúng sinh. Cho dù chúng sinh ấy là con người, hay con thú, hay côn trùng, thuộc bất kỳ phái tính, tuổi tác, chủng tộc nào, quí vị thấy được cái chung cho mọi loài là cái tâm này, cái ḍng ư thức này, cội nguồn của mọi hành động.

Một khi thấy được điều ấy, quí vị nảy sinh ḷng tôn trọng sự sống của mọi loài chúng sinh. Không chỉ tôn trọng dân tộc ḿnh, bộ tộc ḿnh, hay tín ngưỡng của ḿnh, mà tôn trọng mọi chúng sinh. Đó là một ư tưởng cao cả, siêu việt. “Cầu cho mọi chúng sinh được an vui, hạnh phúc, cầu cho hết thảy chúng ta tôn trọng mọi quốc gia, dân tộc, mọi loài chúng sinh.” Làm sao mà chúng ta có ư nghĩ đó, t́nh thương đó? Ấy là v́ chúng ta thấy những chúng sinh khác cũng là ḿnh. Nếu quí vị thấy con ḅ hoàn toàn khác với ḿnh, nó không suy nghĩ giống như con người th́ quí vị ăn thịt nó một cách dễ dàng. Nhưng quí vị có ăn thịt bà nội của ḿnh được không? Không, v́ bà giống hệt ḿnh. Quí vị có ăn con kiến được không? Có thề quí vị giết con kiến bởi v́ quí vị nghĩ rằng nó chẳng giống ǵ ḿnh. Nhưng nếu quí vị nh́n con kiến cho kỹ quí vị thấy nó chẳng khác ǵ ḿnh. Khi sống trong một tu viện ở sâu trong rừng, gần gũi với thiên nhiên, điều đầu tiên quí vị cảm nhận đó là con vật cũng có t́nh cảm, và nhất là nó cũng biết đau. Quí vị bắt đầu nhận ra tính cách của loài vật, của loài Kookaburras,(một loài chim ở Úc), của loài chuột, kiến hay là nhện. Mỗi con vật này đều có tâm như quí vị. Một khi nhận ra điều đó quí vị mới hiểu lư do tại sao đức Phật có ḷng từ bi với mọi loài chúng sinh. Quí vị khi ấy mới hiểu được sự tái sinh diễn ra ở tất cả mọi loài – không chỉ người trở thành người, mà thú cũng có thể tái sinh thành người, người tái sinh thành thú. Quí vị có thể hiểu được cái tâm là nguồn gốc của tất cả mọi thứ.

Cái tâm có thể hiện hữu mà không có xác thân trong cơi ma và thần (đạo Phật gọi là Devas – chư thiên). Quí vị hiểu rơ họ tồn tại như thế nào, v́ sao tồn tại như thế, và họ là ai. Đây là những hiểu biết và tuệ giác có được khi thiền quán. Ngoài ra khi quí vị thấy bản chất của tâm, quí vị biết được bản chất của thức.Quí vị biết bản chất của sự tịch tĩnh. Quí vị cũng hiểu tâm này đi ṿng quanh, hiểu được cái ǵ làm cho tâm t́m kiếm sự tái sinh. Quí vị hiểu được luật về nghiệp - Kamma.

 

Ba loại hiểu biết (tam minh)

Hiểu biết thứ nhất. Khi đức Phật thành đạo dưới gộc cây bồ đề, ngài thành tựu ba loại hiểu biết. Hiểu biết thứ nhất là nhớ lại mọi kiếp trước.  Khi quí vị thấy tâm th́ sẽ có một số năng lực nảy sinh cùng với kinh nghiệm ấy. Các năng lực này chẳng qua là một khả năng, một sự khéo léo do biết dụng tâm. Nó cũng giống như trường hợp một con chó hoang với một con chó được huấn luyện. Quí vị có thể bảo con chó được huấn luyện đi nhặt tờ báo. Nó liền ngoắc đuôi và chạy đi lấy tờ báo cho quí vị. Một số người huấn luyện cho chó của họ đi lấy những thứ như điện thoại cho họ. Và nếu như nó có thể trả lời điện thoại th́ hay biết mấy v́ nó giúp quí vị tiết kiệm được nhiều th́ giờ!

Khi quí vị đi vào các trạng thái thiền định sâu th́ tâm trí của vị được huấn luyện nhiều. Một trong những điều đức Phật đă làm (và quí vị cũng có thể làm khi nhập định) là bảo tâm đi về quá khứ. Kư ức đầu tiên là ǵ? Hăy đi trở về quá khứ sâu hơn và sâu hơn nữa. Một số tu sĩ nhớ lại những ǵ hồi c̣n nhỏ xíu. Có người nhớ lại cả giây phút sinh ra. Có người cho rằng, khi mới sinh người ta chưa có ư thức bởi v́ thần kinh chưa phát triển, hay ǵ ǵ đó. Nhưng khi quí vị nhớ lại được, quí vị mới biết là điều đó không đúng. Khi kư ức xuất hiện  th́ cũng giống như bạn quí vị đang ở ngay giây phút đó và quí vị trải nghiệm mọi cảm giác lúc sinh ra. Rồi khi quí vị hỏi tâm ḿnh trước nữa có ǵ quí vị sẽ đi xa hơn về kiếp quá khứ. Đó là những ǵ đức Phật đă làm dưới gốc cây bồ đề. Qua việc hành thiền quí vị biết được sự tái sinh, quí vị biết được kiếp trước. Đây là những ǵ diễn ra với tâm và quí vị biết nó xảy ra. Đó là loại hiểu biết thứ nhất của đức Phật.

Hiểu biết thứ hai. Loại hiểu biết thứ hai là biết tái sinh như thế nào, tại sao tái sinh, tái sinh về đâu. Đây là luật về nghiệp. Hôm nay có người trao cho tôi một cuốn sách phát miễn phí mà trước đó tôi chưa đọc. Nó chứa đựng những ư tưởng kỳ quái về luật Kamma. Chẳng hạn, nó nói rằng nếu như khi đọc một trong những cuốn kinh mà quí vị nằm trên đất th́ sau này khi tái sinh quí vị sẽ bị đau lưng, hay những thứ tương tự như vậy. Thật là buồn cười v́ Kamma phức tạp hơn thế rất nhiều, và tùy thuộc vào ư định. Sự hoạt động của tâm quyết định Kamma chứ không chỉ là hành động; điều quan trọng là lư do, căn nguyên của hành động. Quí vị có thể thấy những điều này trong thiền định và quí vị cũng thấy tâm được giải thoát như thế nào.

Hiểu biết thứ ba. Loại hiểu biết thứ ba là sự chấm dứt khổ đau. Với sự hiểu rơ Bốn Sự Thật mầu nhiệm (tứ diệu đế) quí vị ư thức rơ Đạo và giác ngộ là ǵ. Đó là giải thoát. Tâm được giải thoát, không những khỏi sự đau khổ của thân mà c̣n giải thoát khỏi sư an lạc của thân. Có nghĩa là không c̣n sự ham muốn dục lạc, không sợ hăi khổ đau, không khổ v́ sự tàn hoại của xác thân, không c̣n ác ư, không sợ bị chê bai.  Tại sao người ta thường hay lo lắng trước những lời xấu ác? Chỉ v́ bản ngă. Họ nghĩ rằng cái ǵ đó là ḿnh. Hăy h́nh dung giây phút được tự do thoát khỏi các thứ đó. Sẽ như thế nảo nhỉ? Sẽ không c̣n lo sợ, tham lam, không cần xa rời phút giây hiện tại. – Nói cách khác, không có ǵ c̣n thiếu, không có ǵ phải làm, không c̣n nơi nào để đi v́ quí vị hoàn toàn an trú trong hạnh phúc ngay ở đây dù cho có chuyện ǵ xảy ra. Đây chính là giác ngộ! Thiền định chính là cội nguồn của sự giác ngộ của đức Phật và cội nguồn của sự giác ngộ của tất cả mọi người.

Không có sự giác ngộ nào không thông qua thiền định. Đây là lư do v́ sao Phật giáo vượt ra ngoài tâm lư trị liệu, ngoài triết học, vượt ra ngoài tôn giáo. Phật giáo đi sâu vào bản chất của thực tại, và mọi người có thể thực hành. Quí vị đều biết cách hành thiền. quí thầy đều đưa ra hướng dẫn miễn phí. Vấy quí vị c̣n muốn ǵ? Thường thường câu trả lời sẽ là, “Có lẽ ngày mai chứ hôm nay th́ chưa.” Tuy nhiên hạt giống đă gieo trong tâm của quí vị rồi, đă có sự hứng thú rồi và đă bắt đầu thực tập rồi. Đă có phần nào sự giác ngộ, một cảm giác an lạc nào đó, và quí vị không thể nào chống được ư thích sẽ tiến lên trên con đường đạo. Quí vị có thể tŕ hoăn một thời gian, có thể tŕ hoăn vài kiếp, nhưng điều kỳ lạ là, như một người có nói với tôi cách đây nhiều năm: “Khi đă nghe những lời dạy này rồi, người ta không thể nào vứt bỏ đi được, Không thể nào quên được. Những lời này không bảo người ta phải tin theo cái ǵ, cũng không đưa ra cho người ta một chủ thuyết nào nghe có vẻ hợp lư. Những hướng dẫn ấy chỉ cho người ta những ǵ có thể hiểu được và thực hành được, và thực hành càng sâu th́ sự hiểu càng sâu.

Đức Phật là một con người xuất chúng; sự tịch tĩnh, ḷng từ bi và trí tuệ của ngài thật đáng ngưỡng phục. Sự giác ngộ quả thật rất hấp dẫn. Cũng như thế, quí vị không thể nào bỏ qua sự giải thoát. Đấy là lư do v́ sao, từng bước một, quí vị sẽ hiểu đạo Phật là ǵ. Quí vị sẽ không hiểu đạo qua những cuốn sách hay qua những lời nói của tôi. Quí vị chỉ có thể hiểu đạo Phật qua kinh nghiệm thiền định của chính ḿnh. Đạo Phật chỉ dạy như thế.  Cầu mong quí vị được an vui khi hành thiền và đừng sợ giác ngộ nhé. Hăy thực hành, lắng nghe và quí vị sẽ không hối tiếc.

Đạo Phật là như thế đấy. Đó là trái tim của đạo: thiền định và giác ngộ. Đó là ư nghĩa của đạo. Hy vọng rằng quí vị đă hiểu. Thời gian cũng đă hết. Tôi xin chấm dứt buổi pháp thoại ở đây.

 

Trần Ngọc Bảo  dịch

 

___________

 

Chú thích.


[1].Wowser: danh từ. người thanh giáo cực đoan, người từ bỏ thú vui, người kiêng rượu, người không thích thể thao."The Australian Oxford Dictionary" (New Budget Edition). Herron Publications: West End, Qld. 1998

[2]. Luật AFL (Australian Football League) là  chữ viết tắt của luật dành cho loại h́nh bóng đá được ưa thích nhất ở Úc."Aussie Rules"

[3].Fremantle và Karrakatta là nghĩa trang và ḷ thiêu phục vụ cho thành phố Perth.

 

 

Trang Trần Ngọc Bảo

Chân trần

art2all.net