|
Khuất Đẩu
ĐỌC ĐAN
TÂM của
PHẠM NGỌC LƯ
Sinh năm 1946 tại Thừa Thiên. Cựu sinh viên Viện Hán Học và Đại Học Văn
khoa Huế. Bước vào con đường văn chương trong những năm sống và dạy tại
Tuy Ḥa trước 1975. Hiện cư ngụ tại Đà Nẵng. Thi phẩm xuất bản: - Đan
Tâm (Thư Ấn Quán, Hoa Kỳ, năm 2006) - Mây nổi (tác giả tự xuất bản, in
rất giới hạn)
Nhỏ
Nhoi Hạt Bụi

Tôi mượn bốn chữ rất dễ thương nọ để làm tiêu đề cho
bài viết này. Không phải v́ bài viết dễ thương mà v́ tập thơ Đan Tâm dễ
thương như con gái một tuổi của anh.
Nằm im giữa trái tim ta
Nhỏ nhoi hạt bụi… xưa là Các Khuê.
Tôi chưa hề gặp anh, nhưng có lẽ anh cũng nhỏ nhoi cả trong dáng h́nh và
lời ăn tiếng nói. Có nhiều người làm thơ khóc con, nhưng hoặc là bi lụy
quá hoặc sáo ngữ quá, nên tiếng khóc chỉ làm ta giật ḿnh chứ không xúc
động.
Nằm chơi dưới một hàng cây
Lao xao lá, lá thơ ngây chuyện tṛ
Nằm thanh thản một nấm mồ
Hồn nhiên cỏ, cỏ thơm tho hơi người
Hồn nhiên bao tiếng khóc cười
Tan vào ḷng đất thắm tươi linh hồn
Hoà vào màu cỏ xanh non
Bay vào mây khói chiều hôm quê nhà
Cùng năm sinh cùng năm mất. Ngắn ngủi quá, mong manh quá. Nhưng qua
những câu thơ trong trẻo ta thấy bé vẫn c̣n sống măi giữa hoa cỏ đất
trời, sống măi trong tim người cha cũng như trước kia đă từng sống trong
ḷng mẹ.
Nhưng khóc cho một mối t́nh th́ lại khác, chẳng phải khác v́ người dưng
mà v́ đời nông t́nh cạn/ ta bơi qua sông/ mới hay đời nặng.
Chảy đi chảy đi
Hỡi sông buồn lắm
Nước thôi chờ chi
Thuyền xưa đă đắm
Người đi người đi
Trăm năm bến vắng
. . . . .
Chảy mau chảy mau
Đời: con nước siết
T́nh: vực nước sâu
Em: ḍng ly biệt
Ta chiếc lá ch́m.
Rất nhẹ nhàng, rất kín đáo nhưng cũng rất sâu xa thắm thiết.
Một người rất mực thanh nhă tế nhị như thế khi vào đời lại bị quăng vào
một nơi:
Bốn phía rừng xanh màu nước độc
Đông tây nam bắc núi chận đường
Một lũng đất bằng khu chén nhỏ
Trói chân ta vào chân Trường sơn
Nơi đó là Củng Sơn, nơi chưa hết thanh xuân đă cùng đường, nơi đêm nằm
mộng lớn nuốt mộng con. Một nơi đất trích nhưng không phải là Tầm Dương
của Tư Mă Giang Châu, để ít ra bên trời lận đận cũng c̣n gặp được một
người khiến lệ phải chứa chan. Nhưng, chính nơi sơn cùng thuỷ tận ấy,
lại là nơi mà tôi tin, đă giúp anh thai nghén một bài hành thốn tâm
thiên cổ. Bài Biên Cương hành.
Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
. . . . .
Đây biên cương ghê thay biên cương!
Tử khí bốc lên dày như sương
. . . . .
Cô hồn một lũ nơi quan tái
Có khi hoá thành thú muông.
Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng.
Những âm ương và uông lập đi lập lại đến mấy mươi lần nghe như những hồi
chuông báo tử. C̣n hơn cả hồi chuông báo tử trong V́ ai chuông báo tử
của Hemingway. Có lúc như cọp gầm núi Lá. Có lúc như con thú bị thương.
Có lúc như oan hồn kêu khóc ở Quỷ môn quan.
V́ đâu một chàng thư sinh lại phải rú lên thống thiết như thế? Đó là v́
có một Trường Sơn với đường 9 Nam Lào, với Khe Sanh, Đắc Tô, với đỏ lửa
mùa hè Quảng Trị. Rồi từ những cái chết của người thân, bè bạn và của
chính ḿnh một ngày không xa.
Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non
. . . .
Chiến trường ném binh như văi đậu
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương.
Không có những trận giao tranh ác liệt. Không có bom rơi đạn nổ ngút
trời. Nhưng cái mùi đất chết đó đă chứng thực máu đă nuôi rừng xanh
xanh ngắt, núi chập chùng như dăy mồ chôn. Và bao nhiêu người của cả
hai bên mới làm nên kỳ tích không mong đợi ấy? Một vạn hay chục vạn hay
trăm vạn? Không ai biết được v́ trên th́ giấu che dưới th́ tịt mù. Nhưng
khu chiến ngày tràn lan lửa dậy/ đá Vọng Phu mọc khắp biên cương.
Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đă bày ra lầy nhầy cảnh nồi da xáo thịt ói tanh
trên hai mươi năm. Hai mươi năm nội chiến từng ngày nên nơi nào cũng là
biên cương, nơi nào cũng đá mang dáng dấp h́nh chinh phụ/ trơ vơ chóp
núi đứng bồng con.
Nhưng thân trai th́ hề chi buổi chinh chiến tang thương/ sá chi hạt
cát giữa sa trường. Biết là “nhất khứ bất phục phản” nhưng
vẫn cứ phải ra biên cương v́ cả hai bên đều ném binh như văi đậu. Đó mới
chính là thân phận bi tráng của những người lính hai miền. Tuy thế, cái
chết hay những tháng ngày đợi chết không c̣n làm ai kinh sợ nữa. Chính
cái cô đơn giữa trời hoang mây rậm mới làm họ phát cuồng.
Đầu tiên là nỗi nhớ trông núi có khi lầm bóng vợ/ ôm đá mà mơ chuyện
yêu đương. Nhưng đá th́ làm sao mà yêu đương được, chỉ có thể vỗ đá
mà ca ngông hát cuồng. Rồi th́ chém cây cho đỡ thèm giết chóc/ đỡ
thèm môi mắt gái buôn hương. Sau cùng th́ nói như hờn dỗi, như trăn
trối:
Thôi em, yêu chi ta thêm tội
Vô duyên xui rơi lược vỡ gương
. . . . .
Thôi em chớ liều thân cô phụ
Chiến trường nay lắm nỗi đoạn trường
. . . . .
Thôi em c̣n chi ta mà đợi
Ngày về thôi cạn máu khô xương.
Chưa có thanh niên thời nào mà tương lai lại tối ám như thế. Chưa có
cuộc t́nh nào mà ngày trở về lại là tang lễ thay cho hôn lễ. Cuộc chiến
quá dài khiến cho những hy sinh mất mát trở thành những tiếng kêu vô
vọng. Đâu c̣n cái hào khí đầy lăng mạn:
Tây tiến đoàn quân không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
(Quang Dũng)
Ở giữa nơi mà người ta ném binh như văi đậu th́ những chữ tổ quốc tự do
dù được thét gào rống rú suốt ngày đêm phía sau chiến tuyến cũng không
c̣n làm ai xúc động. Tất cả đă biến thành những con-vật-người. Cho nên
dù có bắc tay làm loa gọi, th́ tiếng gọi giữa sơn cùng thuỷ tận cũng chỉ
là tiếng hú của con thú bị thương mà thôi.
Hành là một thể thơ xưa chứa chan tâm sự. Bài Tỳ bà hành của Bạch
Cư Dị trên một ngàn năm mà lệ áo xanh vẫn chưa khô. Bài hành Tống
Biệt của Thâm Tâm đến tận hôm nay vẫn dậy sóng trong ḷng. Bài
hành Phương Nam của Nguyễn Bính vẫn láng lai châu thổ. Bài hành
Biên Cương của Phạm Ngọc Lư xé ruột xé gan cả một thế hệ đầu thai
lầm thế kỷ.
Cần ǵ đọc lịch sử hàng chục vạn trang, chỉ cần đọc hơn sáu mươi câu thơ
của một người họ Phạm là thấy được, cảm nhận được, sống lại được một
cách trung thực như lột truồng cả cái cuộc chiến phi nhân xuẩn ngốc
chẳng khác ǵ một cuộc tự sát tập thể. Với bao nhiêu tội ác như thế,
người ta bảo hăy để lịch sử phán xét. Th́ đây, bài Biên Cương hành
là cái phán xét ngắn gọn nhất, đau đớn nhất mà một công dân nhỏ nhoi như
hạt bụi có thể có quyền và có bổn phận góp một tiếng nói vào sử lịch.
Rồi đến lúc: bom có ngừng rơi, đạn có ngừng nổ nhưng cái biên cương ấy
vẫn c̣n mọc lên nhức nhối giữa những con người đă cạn máu khô xương.
Những con người lại một lần nữa bị ném ra ngoài cuộc đời như văi đậu.
Rời Củng Sơn trở về làng cũ, lại một bài hành nữa làm ta buồn muốn khóc.
Bài Cố lư hành khác với Biên cương hành, không thét gào
cuồng nộ mà nhẫn nhục thầm th́ như chịu tội với quê hương:
Thôn ổ tiêu sơ gầy khói bếp
Đồng không mốc thếch lạnh tro tàn
. . . . .
Sao phên giậu nghiêng đầu câm nín
Rơm rạ làm thinh chẳng hỏi han
. . . . .
Ngơ vắng bàn chân như hụt đất
Tre già đang kể chuyện chôn măng
Nương rẫy đang phơi ḷng dâu bể
Nói làm sao hết nỗi bàng hoàng.
Khóc làm sao vừa ḷng cố lư?
Phải đây là cố lư ta chăng?
Đâu bóng mẹ già sau khung cửa
Và những người em mặt trái xoan
Đâu bóng chị hiền như hoa cỏ
Bên luống cà xanh liếp cải vàng
Muốn ở lại làng cũ làm một anh dân cày cũng không làm được, anh đành
theo bước chân của những người thua cuộc, làm một chuyến hành phương nam.
Bài Trở về Phá Tam Giang theo tôi cũng là một trong những bài
hành thiên cổ lụy.
Nhớ buổi ra đi thân t́nh đưa tiễn
Vợ xếp câu thơ chị gói khúc đàn
. . . . .
Mẹ tóc trắng nh́n theo lặng lẽ
Con tóc xanh hai đứa dùng dằng
. . . . .
Bước xuống thuyền nh́n trời cao dơng dạc
Gơ mạn thuyền ngâm khúc hành phương nam
Nhưng:
Mưa miền Nam, nắng miền Nam
Trông mây thấp thỏm nghe gió bàng hoàng
Mười mấy mùa trôi qua không nhớ
Quá đỗi mưa đau
Quá nhiều nắng khổ
. . . . .
Chén rượu quê người sao mà bạc
Ân t́nh đất khách lắm đa đoan.
Không thể so sánh với bài Binh xa hành của Đỗ Phủ, nhưng theo tôi
các bài hành của Phạm Ngọc Lư cũng là những tiếng kêu đứt ruột, ngập
tràn nỗi đau phận người trong từng câu từng chữ.
Từ một thư sinh rồi thầy giáo, giờ anh ma xui quỷ khiến ra ngồi chợ/
bán gió rao trăng một núi dừa. Bài thơ hóm hỉnh cười nhạo chính ḿnh
nhưng nghe ra thật đúng là cười ra nước mắt.
Cô gái Bến Tre vừa quen mối
Đếm dừa mà đôi mắt đong đưa
Người đẹp thương ta hay chơi đẹp
Bạc tiền không nài ép hơn thua
Khổ mấy lần áo khô áo ướt
Sợ ḷng em chợt nắng chợt mưa
Thôi để ta yên bên chén rượu
Uống say…thành bại cũng bằng thừa
Uống say…ném áo lên nóc quán
Hết nợ hết duyên vĩnh biệt dừa!
Hết xứ dừa Bến Tre anh lại lạc vào đất đỏ Long Khánh. Trong bài thơ
Bụi đỏ gửi các con, anh đă viết những câu thơ như lời giải tội.
Trời sinh chi đôi vai thêm khổ
Gánh gian nan như gánh tội đồ
Sinh chi kẻ sĩ đem đày đoạ
Chôn vùi nơi nắng bẩn mưa dơ
Đi giữa rừng cao su trùng điệp
Ḷng đau như vết cạo c̣n tươi
Mủ cứ chảy bám dày tâm sự
Tâm sự đùn cao như g̣ mối chôn người
Đi giữa hoang sơ ruộng bàu khe suối
Gai hổ ngươi cào nát đôi chân
Nghĩ về quê cũ ḷng thêm thẹn
Một ra đi là một lỡ lầm
. . . . .
Cứ hỏi ḿnh: chưa chán? chán chưa?
Nh́n núi Chứa Chan mắt buồn chan chứa!
Mười mấy năm lưu lạc ô nhục đắng cay có khác chi Kiều. Chỉ khác có rất
nhiều Thúc Sinh mà không có Từ Hải. Chút ḷng trinh bạch mà Kiều ǵn giữ
trong tâm hồn để trao cho Kim Trọng th́ Phạm Ngọc Lư xin trao về Nàng
Thơ.
Xưa ta cầm tuổi hai mươi
Vay em nhan sắc về nuôi tâm hồn
Nuôi bao mộng mị vàng son
Một đêm trắng mộng chỉ c̣n đan tâm!
Chính v́ thương ngày xưa không tuổi/ ôm mối t́nh không tên, nhờ
mối t́nh với Nàng Thơ ấy mà anh đă sống sót qua những năm tháng ở Củng
Sơn, ở phương Nam nắng khổ mưa đau. Nàng Thơ không c̣n lửng thửng giữa
thành cũ rêu phong, không phơi tấm thân ngà ngọc trên sông Hương mà cùng
anh mươi lít gạo trộn vài cân muối/ nấu với t́nh em ăn vẫn ngon.
Nàng cùng anh xé toạc đất tanh mùi máu mà kêu thét lên ở biên cương, rồi
cùng anh xuôi Nam lại lộn về cố lư, qua phá Tam Giang rồi dừng lại trên
bến nước thứ mười ba là sông Hàn. Nhờ có nàng mà mộng con mộng lớn dẫu
tan tành th́ cũng hăy c̣n bút mực đan thanh tươi màu.
Bút mực ấy chấm vào tấm ḷng son nên dù mai sau thơ anh có nằm chết trần
truồng th́ tôi vẫn tin, trong trái tim của bạn bè vẫn c̣n nhỏ nhoi hạt
bụi tên là Đan Tâm.
Khuất Đẩu
tháng 1 – 2010
phạm ngọc lư
chantran
art2all.net
|