Sông Hoa

 

 

Lê Hùynh Lâm

LỜI CỦA MẠ

Sau năm 1975, đất nước được thống nhất nhưng hậu quả của chiến tranh đă làm cho cả dân tộc rơi vào cảnh cơ cực, khốn khó. Gia đ́nh tôi cũng không thoát khỏi cảnh ngộ đó. Ba mạ tôi nuôi chín người con, năm đứa c̣n nhỏ và bốn người đang đi học phổ thông. Giai đoạn đầu chúng tôi sinh sống nhờ vào việc bán những của cải vật dụng của gia đ́nh, nhưng lần lượt tất cả vật dụng đều ra đi. Rồi cái ǵ đến sẽ đến. Một hôm, đợi chị đầu tôi đi học, mạ tôi gọi người để bán cái tủ sách quư giá mà chị đầu tôi và mấy anh chị em tôi rất thích. Hôm đó, tôi nghĩ chắc cái tủ cũng buồn lắm, v́ phải đành đoạn chia tay với rất nhiều sách và không kịp nói với người chị đầu tôi lời chia tay nào. Tôi c̣n nhớ chị tôi lúc đi học về, phát hiện thấy trống trải trên căn gác, nét mặt chị buồn so kéo dài hàng tuần. Mạ và ba tôi làm lụng tất cả mọi việc, nhiều lần mấy anh chị có ư định bỏ học để đi làm thuê giúp đỡ gia đ́nh phần nào nhưng đều không thực hiện được, bởi mạ tôi thường nhắc nhở mấy anh chị em: ” Dù thiếu thốn thế nào các con cố gắng mà học, mạ lo cho mấy con học hành đàng hoàng”. Những giai đoạn khó khăn của đất nước cũng vơi dần, người dân có phần đỡ đần hơn, nhưng gia đ́nh tôi vẫn nghèo túng, bởi v́ chỉ một ḿnh mạ tôi tần tảo với bất kỳ công việc ǵ có thể kiếm tiền để nuôi chín đứa con ăn học và bà nội, bà ngoại,… Nhưng lạ thay, thời đó gia đ́nh tôi vẫn thường xuyên có bà con và bạn bè đến tá túc để ăn học trong không khí rất vui vẻ và thân thiện. Mặc dù chỉ có những bữa ăn dưới cả b́nh dân như khoai sắn, cháo bột và thỉnh thoảng mới có một bữa cơm. Tôi c̣n nhớ, thời đó các nhà quanh xóm bờ sông cực khổ lắm, thiếu thốn trăm bề và con cái đa số đều phải nghỉ học.

 

Năm 1979, hai chị và anh trai tôi vào được đại học, lúc này gia đ́nh tôi có phần nào đỡ hơn, v́ lúc ấy sinh viên không phải nạp tiền và c̣n được tiêu chuẩn mỗi tháng 13 ki lô gam gạo, nhưng vẫn c̣n rất thiếu thốn, bởi ba mạ tôi vẫn c̣n đến 6 đứa con đang đi học. Trong giai đoạn khốn khó này, mạ tôi ngày ngày vẫn đi từ sớm và đến tối khuya mới về nhà, tôi không hiểu mạ tôi đi làm ǵ, chỉ biết khai trong lư lịch, khi là thợ may, lúc th́ buôn bán áo quần cũ, ba tôi th́ làm thuê, làm mướn, bán kem,… Mấy chị em nhỏ chúng tôi lúc đó chưa ư thức và mặc cảm với sự thiếu thốn. Mặc dầu, bạn bè của anh chị em chúng tôi đều đi học bằng xe đạp, c̣n chín anh chị em chúng tôi th́ cuốc bộ mấy cây số từ người chị đầu đến đứa em út. Năm 1984, hai người chị tôi và anh trai tôi ra trường đi dạy ở vùng xa, chị đầu tôi đỗ thủ khoa được dạy tại trường chuyên của thành phố.

 

Năm 1986, 1987, em trai và chị gái và tôi vào đại học, mỗi người có thêm 13 ki lô gam gạo. Nhà tôi có phần đỡ hơn đôi chút, nhưng các chủ nợ thỉnh thoảng lại đến thúc giục. Chúng tôi, vừa học vừa giúp đỡ ba mạ trong những công việc không mấy thích thú. Có hôm chính tôi (đang học cấp 3) phải trèo lên nóc nhà để dỡ những tấm tồn như là gia sản cuối cùng của gia đ́nh để trả nợ. Ngồi trên nóc nh́n căn nhà trống không chưa kịp lợp lại bằng giấy trộn dầu hắc, th́ trời đổ mưa rất to, nước mắt tôi chảy thành ḍng hoà vào mưa, tôi nh́n những chồng sách ướt đẫm và oán trách trời phật! Sau sự cố đó không lâu, ba mạ tôi phải cầm cố ngôi nhà cho ông sĩ quan chế độ cũ diện HO (do ông đă bán nhà đợi đi Mỹ) với giá 1 chỉ vàng trong thời gian 3 năm. Cả nhà tôi chuyển sang ở tạm nhà cậu ruột của mạ tôi là ông Quảng Hanh nổi tiếng thầy địa ở Huế. Năm 1990, gia đ́nh tôi lại chuyển về ngôi nhà cũ. Lúc này, đất nước đă có chính sách mở cửa, tôi c̣n mấy đứa em đang đi học phổ thông. Nhưng gia đ́nh vẫn không khá hơn chút nào. Tôi thấy vẻ mặt ba mạ tôi lúc nào cũng lo âu, tâm thần bất định, bởi cái việc mưu sinh đang ẩn nhiều bất trắc… Mấy anh chị em tôi đều khuyên ba mạ nên nghỉ ngơi hay kiếm nghề nào đó thư thái đầu óc hơn, nhưng mạ tôi hẹn đến khi nào đứa em út học xong đại học, lúc đó mạ chuyên tâm đọc tụng kinh Phật để có niềm vui lúc tuổi già. Nếp nhăn trên khuôn mặt mạ ngày mỗi đậm hơn, bàn tay mạ không ấm áp như ngày xưa nữa, mỗi ngày mạ yếu dần đi bởi đầu óc không bao giờ được thư thả. Nhưng lúc nào mạ cũng nhắc chúng tôi phải cố gắng học hành đến nơi đến chốn.

Đến bây giờ, chín anh chị em chúng tôi học xong đại học, mỗi người một việc làm. Chị đầu đă tiến sĩ, hai chị c̣n lại và một em gái là thạc sĩ, em gái út là kiến trúc sư đă làm việc hơn 5 năm cùng bốn anh em trai tôi người đi dạy, kẻ đi làm hàng tháng gửi về cho ba mạ chút ít tiền tiêu lúc tuổi già và phần để trả góp những món nợ c̣n lại từ thuở xa xưa. Lạ thay cả chín người con đi làm mà mạ vẫn cứ c̣n lo, dù cuộc sống không thiếu thốn như ngày xưa, nhưng xem ra cũng không thoải mái chút nào. Ôi buồn cho phận người! Dù mạ đă nghỉ ngơi, nhưng đầu óc mạ c̣n quay theo quán tính của ḍng đời, mạ ngồi không yên một chỗ, ngày ngày mạ đi đi về về, cái tâm mạ luôn động và cái trí đă huân tập trong thời gian dài. Phải chăng mạ mang nghiệp thay cho con cái? Bởi món nợ của những tháng ngày điêu linh vẫn c̣n vọng đến bây giờ, lời mà mạ đă nói với tôi ngày trước “Lo cho mấy con học hành xong, mạ sẽ đọc tụng kinh Phật…” đă nhoè theo vệt nghĩ của mạ, tóc mạ ngả màu, chỉ c̣n đôi mắt mờ mờ của mạ chan chứa niềm vui luôn dơi trông theo những bước chân của đàn con thơ đang cố gắng thành người. Tôi mong ước một ngày nào đó đủ chín anh chị em chúng tôi cùng về quây quần bên mạ để được mạ xoa xoa trên đầu mỗi đứa và được nh́n thấy nụ cười tươi vui rạng rỡ trong thăm thẳm ánh mắt hiền hậu của mạ.


VÙNG LAU SẬY

Ban mai, những hạt sương long lanh trên lá cỏ rất mơ hồ và tồn tại thật ngắn ngủi. Chỉ cần một làn gió khẽ lay động cũng đủ kết liễu một đời sương. Với khoảng thời gian sống ngắn như vậy nhưng sương mai đă góp phần làm đẹp thêm cho đời, cái đẹp tinh khiết như một triết lư sống.

Khi mặt trời bắt đầu ló dạng, qua lăng kính bé nhỏ của hạt sương những tia nắng ban mai càng lung linh hơn. Lúc này hạt sương mai như hoá thân kim cương. Mặt trời góp phần làm đẹp cho sương mai và cũng góp phần rút ngắn cuộc đời sương mai. Phải chăng cái ǵ cũng có sự đánh đổi?

 

Những ngày cuối thu, dọc theo các triền sông, những nhánh lau sậy lúp xúp đong đưa theo gió, trỗi lên không gian những âm điệu hoang dă. Hoa lau thường nở cuối thu và lan sang cả mùa đông, những cành hoa trắng mang h́nh thếp lúa tủa lên giữa nền trời trong xanh trông thật d́u dịu. Không dằn ḷng được trước vẻ đẹp thiên nhiên khoáng đạt, hoa lau đă lăng du theo gió gửi hương sắc b́nh dị của miền thôn dă dâng tặng nơi nơi.

 

Xa xa phía bờ bên kia những ngôi nhà bằng phên tranh. Những thôn xóm, những khoảng vườn c̣n in bóng trong nhiều ca khúc của các nhạc sĩ. Chốc chốc lại vang ngân tiếng gáy của những chú gà kiến nối đuổi nhau như muốn khoe giọng ca của những “chàng trai” miền lau sậy.

Những đêm trăng, sương mù làm tăng thêm độ mặn mà của những nhánh hoa lau trắng lung lay trong gió ánh lên giữa màu trăng huyền hoặc. Tôi ch́m vào hoang liêu lá cỏ, nh́n hoa lau mà liên tưởng đến nụ cười trên những gương mặt ngây ngô vùng thôn dă. Cái đẹp của miền lau sậy đă được miêu tả qua những câu thơ của cố thi sĩ tài hoa Quách Tấn :

 

… Bờ nghiêng lau lách ánh sương hồng

Trăng nhuốm màu thu phủ mặt sông…

 

Nhớ những khuya cùng bạn bè ngồi nhâm nhi bên triền sông Hương phía bên kia bờ là Cồn Hến có những món ăn danh tiếng lẫy lừng. Khách đến Huế mà chưa ăn món cơm hến ở Cồn Hến th́ thật là thiếu sót. Thỉnh thoảng chợt hiện một dáng thuyền mơ, mái chèo khua nước khẽ vang tiết nhịp êm đềm và tạo nên những gợn sóng lô nhô gợi lên cảm giác bồng bềnh trong biết bao tâm hồn. Ngoài món cơm hến cay, nồng, đầy thi vị, phải nhắc đến món chè bắp thanh tao, thơm ngọt,… những món ăn đó rẻ tiền đến muôn đời. Bắp để làm nên món chè đặc sản được trồng dọc theo hai dải sông của xứ cồn, phía nam được nối với Vỹ Dạ bởi cây cầu Phú Lưu nho nhỏ, phía bắc đối diện phố Gia Hội cổ kính một thời. Nét đẹp thôn Vỹ vào mùa bắp trổ hoa được nói đến qua bài thơ Đây thôn Vỹ Dạ nổi tiếng của thi sĩ Hàn Mặc Tử:

 

Sao anh không về chơi thôn Vỹ

Nh́n nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Gió theo lối gió, mây đường mây

Ḍng nước buồn thiu, hoa bắp lay

 

Thuở ấy, chênh chếch trước nhà tôi, có một bến đ̣ do một mệ già cầm chèo đưa khách từ Cồn Hến sang Gia Hội, thỉnh thoảng những ngày không mưa lại bắt gặp những tà áo dài trắng lênh đênh trên sông sang Cồn Hến dự lễ nhà thờ Tân Thuỷ, có màu sơn trắng xinh xinh nổi bật lên giữa miền xanh thăm thẳm óng mượt như ngọc bích.

Bến đ̣ được đặt tên “Bến đ̣ mệ Thợ”. Có lẽ người đưa đ̣ tên là Thợ. Tóc mệ hồi đó đă ngă màu sóng nước và dáng mệ cong theo ṿm trời chiều. Dọc con đường nhỏ xuống bến đ̣, một bên là luỹ tre xanh đan tay nhau kéo dài gần trăm mét, phía c̣n lại vùng lau sậy xanh cả bến nước. Nói đến bến đ̣ trong đêm trăng phủ đầy sương một cách tài t́nh và thơ mộng nhất vẫn là những câu trong bài Đây thôn Vỹ Dạ của Hàn thi sĩ:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay ?

Mơ khách đường xa, khách đường xa…

Áo em trắng quá nh́n không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết t́nh ai có đậm đà.

 

Nhớ những đêm khuya, đang ch́m trong giấc ngủ, bỗng nhiên chợt tỉnh giấc, nghe giữa hoang vắng vọng lên tiếng gọi đ̣ “Đ̣ ơi ơi ơi ơi ơi… đ̣…” của những người bán hàng rong về khuya, giọng trong thanh và u uất nỗi niềm vô vọng, ngưng một hồi th́ có tiếng đáp lại “ơi ơi ơi… ơi ơi ơi…” khàn khàn của mệ Thợ. Những đêm mưa gió mệ vẫn miệt mài đưa khách. Nghe tiếng gọi đ̣ rồi không thể nào ngủ lại được, bước ra ngoài hiên nhà nh́n chằm chằm vào đêm đen dày đặc,  lắng nghe đến khi có tiếng mái chèo khua nước mới chịu đi vào. Tiếng gọi đ̣ trong thanh, u uất và tiếng đáp lại khàn khàn cứ măi ám ảnh, tiếng gọi đ̣ làm tôi liên tưởng đến hai câu thơ bất hủ của cố thi sĩ Quách Tấn:

 

Đời nửa khói mây ch́m bóng mộng

Gọi đ̣ một tiếng lạnh hư không

 

Hàng đêm, cứ đến khoảng canh ba tiếng chuông từ chùa Pháp Hải, và chùa sư nữ Hương Lưu phía Cồn Hến vọng lên, trầm trầm, du dương sang sông hoà quyện vào nỗi trăn trở của đời sông,  mang theo cả h́nh ảnh những chú tiểu, những điệu, những sư, những ni… thức dậy “công phu” sớm. Âm thanh chuông chùa có âm hưởng tĩnh mịch, cô liêu hàm chứa nỗi gian truân của một phận người, làm ḷng tôi lắng lại. Đặc biệt là tiếng chuông chùa canh ba. Nghe tiếng chuông chùa mà nhớ đến những câu thơ trong bài Không bao giờ đời đứng yên của người bạn thi sĩ Phương Xích lô vừa qua đời: “Vút cao là tiếng c̣i tàu/ Ch́m sâu là tiếng chuông đầu chùa xưa”. Rồi không rơ nguyên do nào, đ̣ đành ḷng xa bến nước, người đưa đ̣ xưa có lẽ đă khuất bóng. Sông Hương vắng dần những dáng thuyền mơ. Bến đ̣ theo thời gian đă biến dạng thành băi đất  phù sa do những trận lụt bồi đắp và cỏ hoang um tùm bao phủ, che khuất cả một không gian đẹp và thơ mộng của Huế, che luôn cả một đời người đưa khách sang sông. Tôi đứng lặng nh́n miền lau sậy lay lắt trong gió nước, không quên gửi theo gió một làn hương trong lành mang đầy âm sắc b́nh dị vào tận mai sau.


VƯỜN ĐÁ Ở HUẾ

Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau“ câu kết bài Diễm xưa mà nhạc sĩ họ Trịnh tài hoa đă chiêm nghiệm qua cuộc lữ đày, ướt đọng trên đôi mắt sầu bi của một đời người. Đá rất gần gũi với chúng ta mà cũng rất xa lạ. Bởi đá rất tầm thường, nhỏ nhoi và đá quá vĩ hùng, cô độc. Mấy ai hiểu được ḷng đá! Người ta thường ví những con người lạnh lùng, cứng rắn bởi câu: ”Ḷng dạ sắt đá”. Lạ thay, qua bàn tay tài t́nh của con người, đá đă trở thành những tác phẩm tuyệt mỹ, hoặc được tạo hoá và thời gian tạo ra những ngọn núi, hang động như những hang động, những dáng đá ở Hạ Long, Phong Nha, Non Nước,… là những tác phẩm mà thiên nhiên đă ban tặng cho con người. Con người đă thổi hồn vào trong đá hay con người phát hiện ra linh hồn của tượng đá và cảm nhận được những ḍng “Lệ đá”(1) ?

 

Những chiều lang thang trên công viên tượng dọc theo bờ Hương giang thơ mộng cùng những tượng đá của các nhà điêu khắc trong nước và thế giới, các tác giả đến Huế với một mong muốn góp phần cho Cố đô lăng mạn hơn và cổ kính hơn. Mỗi tác phẩm của mỗi nghệ sĩ có một dáng vẻ khác nhau, mà chung quy đều thể hiện sự thăng hoa của con người hay ước mơ về một cơi thiện, về cái đẹp hay những trăn trở trong thế giới này.

 

Ở Huế, người chơi với đá không nhiều, đa phần là những người đă có tuổi. Những ai đă chọn đá làm bạn rồi mới biết, đá không trơ ĺ như mọi người lầm tưởng. Ngôn ngữ của đá chỉ dành riêng cho những người chân t́nh với nó. Những lần ghé vườn đá của anh Lê Trường Quỳnh ở làng Lựu Bảo thuộc huyện Hương Trà, nh́n đá để mà hiểu nỗi trầm luân của kiếp người  và cảm nhận sự trầm mặc của đá. Vườn đá của anh Quỳnh đă có hơn 10 năm. Ở đây, mỗi tảng, mỗi viên đá đều có một dáng vẻ đặc trưng và có cái hồn riêng của nó. Tảng này hiển hiện sự thanh thoát của vị thiền sư, ḥn kia toát lên nỗi niềm cô đơn của đời người, có viên dẫn dắt chúng ta về với h́nh ảnh tuổi thơ mà hầu như ai cũng từng có: hai đứa đang cơng nhau khi cuộc chơi kết thúc,  thấp thoáng xa xa một dáng đá tựa h́nh bóng con thuyền đang ra khơi của nhà văn Hemingway cứ bềnh bồng trong kư ức tôi. Tôi lạc vào thế giới của đá, một thế giới kỳ bí và bao dung, một thế giới hoà b́nh và yên ắng, bởi lẽ đá luôn nói ngôn ngữ riêng của ḿnh và chỉ nói cho những người thực sự muốn nghe. Nghe lời của đá mà như nghe tiếng ḷng đang tự nói với chính ḿnh. Đá cũng có tâm hồn và có cái dụng của đá, c̣n tôi như thế nào? Thế giới của đá đâu có tranh giành, sát hại nhau? Sao thế giới loài người lại như vậy!

 

Buổi chiều khi ánh nắng xuyên qua những kẽ lá, sóng nắng nhấp nhô trên lá cỏ làm cho màu xanh thêm phần mặn mà, tôi lang thang theo sóng nắng qua các tác phẩm đá trong những ngôi nhà vườn quanh thị thành, gần xế chiều tôi ghé thăm phủ thờ công chúa Ngọc Sơn ở số nhà 29 đường Nguyễn Chí Thanh, nơi có tác phẩm non bộ diện tích chừng 5 mét vuông chiếm cả một khoảng sân trước nhà, tôi măi mê ngắm nh́n tác phẩm non bộ vời vợi giữa màu chiều cô tịch rồi ch́m đắm trong nỗi niềm liêu trai của đá…

 

Dưới cái nắng chang chang của trưa hè xứ Huế, tôi theo chân anh Ngọc Thu đến nhà thầy Trợ Tâm ở đường Phan Châu Trinh, anh Thu là học tṛ cũ của thầy Trợ Tâm. Anh cho biết, cụ Tâm là bậc thầy về non bộ, theo cụ Tâm chơi với non bộ là trở về với đạo của trời đất có âm dương, ngũ hành. Tiếc thay cụ đă về với gió cát, nhưng tác phẩm và lời chỉ dạy của cụ Trợ Tâm về non bộ c̣n khắp nơi và ngân vang trong những con người mê đá. Buồn thay, ngôi nhà cụ Trợ Tâm bây giờ  thay đổi quá nhiều, tôi thất vọng vô cùng và nh́n thấy nỗi bàng hoàng, tái tê hiện rơ trên gương mặt người học tṛ đáng yêu của cụ Tâm, chẳng biết cụ Trợ Tâm ở thế giới bên kia có cảm nhận được điều này không? Ở Huế, người làm nghề non bộ không nhiều, họ là những người chơi đá khắp thị thành, họ đem cái đẹp đến cho những ngôi nhà vườn mà vật liệu chính chỉ là đá. Thời gian vừa qua tôi có biết anh Xuân Hiển một người làm non bộ khá nhiều, anh là người làm đẹp cho những ngôi nhà vườn của người khác mà như làm đẹp cho chính ngôi nhà ḿnh. Những người xa xứ, chiều chiều ra đứng ngă ba cứ trông ngóng về cố hương, bởi nỗi buồn xa quê, nhớ mẹ làm cơi ḷng quặn thắt. Để phần nào vơi đi nỗi nhớ quê hương, những người xa nhà đă thu nhỏ h́nh ảnh quê hương trong những ḥn non bộ. Nghệ thuật làm non bộ đă có từ xa xưa và đi vào trong đời sống văn hoá, tinh thần người dân Cố đô Huế, phần lớn trước khoảng sân mỗi nhà thường có một bể nước và trên bể được đặt một ḥn non bộ, những nhà có vườn rộng hơn chủ nhà dành một khoảng sân để thu nhỏ cảnh nước non hữu  t́nh ngay trong vườn nhà. Thông thường người ta có trồng một cây Bồ đề, hoặc cây Sanh trên ḥn non bộ để tạo nên phong cảnh thơ mộng trữ t́nh, điều này thể hiện t́nh yêu quê hương, yêu cái đẹp, yêu cỏ cây hoa lá và nói lên cái thú thưởng ngoạn tao nhă của người dân xứ ta. Một ngày giữa hạ, tôi lạc về miền Vỹ Dạ và ghé thăm anh Đinh Thu, chủ nhân ngôi nhà rường cổ kính thuộc vùng Tây Thượng. Anh Đinh Thu là người rất mê đá. Nhiều lần anh đă đạp xe lên những vùng đồi núi chỉ để đem về những ḥn đá. Khoảng sân trước nhà anh có những tác phẩm đá theo phong cách hiện đại, có tác phẩm như đôi nam nữ đang thể hiện vũ điệu ba lê uyển chuyển hay ở một góc nh́n khác trông như đôi t́nh nhân đă cách biệt lâu ngày nay được hạnh phùng đang ôm choàng lấy nhau trong tiết nhịp nồng ấm của hai trái tim đang nhập làm một. Trong những góc khuất có những chàng đá đang thu ḿnh cô đơn trong vùng không gian im lặng. Rồi trên một chậu kiểu chỉ hai viên đá anh Thu đă tạo nên đỉnh núi hùng vĩ mà những viên đá này với người khác lại không có giá trị ǵ. Phía xa xa trên ngọn đồi nhỏ trước nhà, có dáng đá như thiếu phụ đứng bế con lạnh lùng, kiêu hănh gợi lên trong tâm trí tôi h́nh ảnh ḥn vọng phu cô quạnh giữa đất trời và từ đôi mắt đá sầu muộn như ứa đọng những giọt lệ mằn mặn, uất nghẹn rỉ xuống mảnh hồn tê dại, đơn độc đang ch́m sâu trong thế giới huyền hoặc của đá. Bỗng nhiên giữa không gian im vắng, văng vẳng lời ca nao nao cơi ḷng  Hỏi đá xanh rêu bao nhiêu tuổi đời… Tượng đá kiên trinh ôm con đợi chồng…(2).

Ôi đá cũng có tuổi, nghĩa là đá phải trải qua chu tŕnh sinh, lăo, bệnh, tử và đă có một thời “Tuổi đá buồn(3) hắt hiu dưới cơn mưa trắng xoá mịt mùng những lối đi... Đá ở vườn nhà anh Đinh

Thu không nhiều nhưng mỗi viên là một tác phẩm khá hoàn chỉnh mà chính anh đă sắp đặt. Có hôm, sau khi sắp xếp đá trong vườn xong, anh nh́n lại và thấy ḿnh như lạc vào thạch trận, anh hăi hùng trước sự bí ẩn của đá. (Điều này làm tôi liên tưởng đến trận chiến giữa Khổng Minh và Lục Tốn trong tác phẩm Tam Quốc Chí của La Quán Trung, trong trận đó Khổng Minh đă bày Thạch Trận và dụ Lục Tốn vào. Chỉ những tảng đá trông rất b́nh thường và được sắp xếp theo một quy luật huyền bí nào đó mà làm cho một vị đô đốc tài ba như Lục Tốn lạc lối, như lạc giữa rừng rậm thâm sâu, Lục Tốn cứ luẩn quẩn măi trong Thạch Trận mà không tài nào t́m được đường để thoát thân, may nhờ ḷng thương người của cụ Huỳnh Thừa Ngạn, cha vợ Khổng Minh giúp đỡ mới ra được. Trong tác phẩm “Thần điêu đại hiệp” của Kim Dung, có đoạn tác giả đă nói đến thạch trận do Hoàng Dung điều khiển c̣n Dương Qua th́ dụ Kim Luân Pháp Vương vào kỳ môn của thạch trận, khi đối phương vào trận rồi th́ thạch trận bắt đầu biến hoá kỳ ảo với những khẩu lệnh:“Chu tước tiến về Thanh long”, ”Quẻ Tốn chuyển sang Quẻ Ly”, “Bất phương trở thành Qui phương”..., và kết quả làm cho Kim Luân Pháp Vương hồn xiêu phách lạc).

 

Cố đô Huế, ngoài những tác phẩm nghệ thuật được tạo nên từ đá bằng cách sắp đặt hay điêu khắc, c̣n có người vẽ tranh trên đá là hoạ sĩ Đặng Mậu Triết, ngoài những bức tranh vẽ trên các chất liệu thông thường khác của anh. Từ những cục đá sành, đá cuội do chính vợ chồng hoạ sĩ Triết - Hỷ lặn lội đến những vùng xa xôi để t́m kiếm, đào bới tận đáy những con suối hay trong ḷng đất sâu và qua đôi mắt nhà nghề, những ḥn, những tảng đá được tuyển chọn kỹ lưỡng rồi chuyên chở về nhà. Những viên đá tưởng chừng  như  vô tri vô giác đă bị người đời quên lăng và măi măi chôn vùi dưới bao lớp trầm tích thẳm sâu, nhưng với tấm ḷng và tài nghệ của một hoạ sĩ, anh Triết đă thổi vào đá cái hồn thiêng Bi, Trí, Dũng của tổ sư Thiền tông Bồ Đề Đạt Ma. Những tác phẩm trên đá của anh Triết đa số là vẽ Đạt Ma, lúc th́ vô tư lự, khi th́ thu thần lại như thể đóng tất cả các giác quan, rồi có bức như bậc đại trí đang trầm ḿnh trong nỗi khổ của nhân loại, có tác phẩm lạnh lùng kiêu bạt, có khi tràn đầy xúc cảm từ bi và có lúc dũng mănh phi thường… Mỗi một phẩm cách của con người đều được thể hiện qua nhân vật huyền bí này, tôi cảm nhận đời sống của vị tổ sư Thiền tông tuôn trào như  một ḍng thác của tâm thức. Có t́m hiểu về ngài Đạt Ma, đọc lời kinh của ông giảng thuyết cho vua Lương Vơ Đế, chiêm ngưỡng những bức tranh vẽ Đạt Ma trên đá của hoạ sĩ Đặng Mậu Triết, chúng ta mới thấy được cái tài điểm nhăn của người vẽ Đạt Ma, yếu tố nổi bật của mỗi trạng thái tâm đă toát lên một cách cô đọng nơi đôi mắt bi hùng của vị Tổ sư Thiền tông này. Nh́n tranh, nh́n người mà chợt thấy trong mỗi chúng ta đều có ḍng chảy của tâm được biểu hiện qua phong cách của ngài Đạt Ma tổ sư. 

 

Ngoài những vườn đá và thể cách chơi đá được nêu trên, ở Huế c̣n nhiều vườn đá khác, đặc biệt có một vườn tượng rất nổi tiếng của điêu khắc gia Điềm Phùng Thị ở ngôi nhà số 1 đường Phan Bội Châu, vườn tượng của tác giả tài danh này là một công tŕnh sáng tạo đầy tâm huyết với quê hương, chỉ một bộ mẫu tự gồm 7 chữ cái trông rất giản đơn, nhưng với khả năng sáng tạo phi thường và sự biến hoá kỳ ảo tác giả đă vượt qua những ranh giới của con người và gửi lại cho mọi người trên hành tinh này những tác phẩm tuyệt mỹ. Tác giả đă qua đời nhưng vườn tượng của bà luôn có hồn bà ghé đến hằng đêm để th́ thầm những lời mà tác giả chưa kịp nói với mọi người khi đang c̣n sống trong cơi tạm này. Mỗi tác phẩm của bà Điềm là một nét đẹp, một ẩn dụ của ngôn ngữ  điêu khắc mà người xem có thể cảm nhận được qua sự đồng cảm với tác giả hay bằng trực giác. Một số tác phẩm của bà Điềm như gợi lại trong tôi dấu ấn của một nền văn hoá Champa xa xưa mang mang một nỗi u trầm. Có tác phẩm đ̣i hỏi người xem phải ở đúng vào một vị trí nào đó mới thấy được sự  hoàn mỹ của nó, đó là ẩn nghĩa của nghệ thuật sắp đặt chỉ dành riêng cho những người có duyên với tác phẩm. Thưởng ngoạn vườn tượng của bà Điềm Phùng Thị, tôi như trở về với thế giới kỳ bí của đá, thế giới của tuổi thơ hồn nhiên và thánh thiện mà tác giả muốn nhắn nhủ đến với mọi người trên hành tinh này về một cơi Chân Thiện Mỹ. Xin hát lên những lời t́nh ca của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn “…Làm sao em biết bia đá không đau …Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau“. Phải chăng lời nhắn nhủ của những con người giàu ḷng nhân ái, đầy nhiệt huyết với cuộc sống, một thông điệp nhân bản nhằm nhắc nhở mọi người hăy thương yêu nhau, hăy cảm thông nhau. Nghĩ về đá, ch́m đắm vào thế giới kỳ diệu của đá và liên tưởng đến thân phận những con người cô độc, họ cô độc bởi t́nh yêu đối với họ là tuyệt đối, nhưng t́m đâu ra t́nh yêu tuyệt đối ở thế gian này? Phải chăng con người đă hoà ḿnh vào thế giới thẳm sâu của đá để t́m đến với t́nh yêu tuyệt đối và cái đẹp vĩnh hằng? Ôi đá ơi! Tưởng chừng đá chỉ là những vật vô tri, vô giác măi vùi chôn, ngủ say trong ḷng đất sâu và bị lăng quên bởi thế giới loài người. Nào ngờ đâu, đá cũng khóc cười, đá trầm tư, hồn nhiên, đá khổ đau, hạnh phúc,… như một đời người. Ôi đời đá, đời người đă gắn bó cùng nhau thuở hồng hoang và từ thời xa xưa con người đă gần gũi, thân thiết với đá qua những dụng cụ, vật liệu và rất nhiều sản  phẩm khác được chế tạo từ đá để phục vụ cho cuộc sống hàng ngày. Trong cơi tâm linh, trong thế giới nghệ thuật con người đă đánh thức và thổi vào đá những luồng sinh khí tinh hoa của trời đất, của tạo hoá. Qua những bàn tay tài hoa và những tâm hồn ngập tràn niềm bi thương đang thênh thang bay bỗng trên tầng trời cao hút xa xăm đă gửi gắm lại trần gian này những vẽ đẹp quyến rủ, những thông điệp huyền ảo, linh diệu trên các tác phẩm đá, nhằm gắn kết t́nh người, t́nh nhân loại trong toàn thể thế giới đang hiện hữu suốt ḍng thời gian bất tận và không gian mênh mang điệp điệp trùng trùng.


MƯA HUẾ

Mưa! Mưa! Mưa! Suốt cả đêm dài với những âm thanh lạ lẫm tạo ra từ hàng triệu triệu hạt mưa vỗ vào phím đàn là một mái nhà được lợp bằng tôn tạo nên cảm giác trống vắng, tái tê và cô quạnh. Lời mưa đă ru tôi ch́m vào giấc ngủ lúc nào không hay. Buổi sáng sớm khi chưa rời khỏi hẳn giấc ngủ đă nghe những tràng âm thanh năo ḷng dội vào tâm tưởng làm tôi không muốn dậy nữa, tôi nằm ĺ trên giường lắng nghe giai điệu buồn da diết của mùa mưa xứ Huế. Mưa Huế đă trở thành “thương hiệu” trên mọi miền tổ quốc và đă xuất khẩu sang cả nước ngoài. Nói đến mưa Huế là nói đến một trong những điểm lạ lùng của thành phố này. Thành phố Huế xem ra chỉ có hai mùa, mưa và nắng. H́nh như mùa Xuân với những cơn mưa phùn lất phất chỉ đến thăm Huế trong khoảng thời gian rất ngắn, nhưng đă để lại dấu vết tuyệt vời trên những loài hoa đang nở rộ khoe hương sắc khắp chốn thị thành và đặc biệt nhất là hoa Hoàng Mai một biểu tượng của mùa Xuân trên vùng đất Thuận Hoá, những cánh mai vàng khẽ rung rinh như mời gọi và chia sẽ niềm vui với mọi người… C̣n mùa Thu như lữ khách phiêu bạt giang hồ khi cảm hứng th́ tạt qua thành phố lăng mạn đôi ba ngày rồi ra đi và mang theo những thuyền lá lênh đênh trên ḍng đời bất tận…

 

Vào mùa mưa, Cố đô Huế như một bức tranh thuỷ mặc u hoài, gợi lên bao nỗi nhớ quyện vào suối tóc huyền hoặc buông dài theo ḍng sông nhoà trắng tạo thành một nét bút lông tài hoa của những hoạ sư vẽ tranh thuỷ mặc. Phải chăng, mưa Huế đă tạo nên trong tâm hồn mỗi con người xứ Huế một bức tranh thuỷ mặc, rất giản dị nhưng rất tinh tế và ẩn chứa những nỗi niềm sâu kín.

Bầu trời Huế rất nhạy cảm, đang nắng gắt gao bỗng nhiên lại giận hờn rơi lệ sướt mướt, ào ạt mưa. Thời tiết Huế thật kỳ lạ, hễ mà mưa xuống trời Huế như chuyển sang mùa đông ảm đạm, ê chề. Điều này phần nào đă làm ảnh hưởng đến tính cách của con người vùng đất Thần kinh.

Mưa Huế có rất nhiều cung bậc, có thể gọi mưa Huế là một bản giao hưởng tuyệt vời mà thiên nhiên ban tặng cho xứ Huế, khi chậm buồn theo tiết nhịp Slow, rồi chuyển sang hào hứng vui nhộn theo điệu Valse của những giọt mưa tí tách trên các phiến lá xanh, lúc trữ t́nh như thể romance, có khi u uẩn và bí ẩn như khúc sáo thần của những biến tấu Mozart, có lúc nhịp mưa du dương mơ hồ như ánh chiều tà Serenade và mơ màng, huyền ảo như bản Sonata dưới ánh trăng bạt ngàn mộng mị… Và có lẽ giai điệu chủ đạo của bản giao hưởng mưa Huế là tiết nhịp năo nề, thê lương kéo dài từ ngày này qua ngày nọ, xoáy vào tận tâm can của ḷng người. Những ngày mưa mịt mù trắng đất trắng trời là khoảng thời gian dài gian khổ, khốn khó của những mệ, những d́, những chị em bán hàng rong và những chú, bác đi xe thồ chạy gạo hàng ngày. Nhớ những đêm mưa tầm tă, đường phố lạnh ngắt chỉ c̣n âm thanh của mưa và những bước chân cô độc, chốc chốc lại vọng lên tiếng rao đêm năo nùng, xa xa đong đưa một đốm sáng vàng hiu hắt của chiếc đèn dầu lắc lư theo nhịp đi của những o, những chị bán trứng vịt lộn đêm. Với những đôi t́nh nhân, mùa mưa là khoảng thời gian thú vị và khó quên nhất trong chuyện t́nh dài dai dẳng. Mùa mưa là khoảng thời gian trời gửi t́nh yêu cho đất, người gửi t́nh yêu cho người... Điều này làm tôi nhớ đến những hạt mưa ngâu tháng bảy, mà theo truyền thuyết mưa ngâu tháng bảy là những giọt nước mắt hạnh phúc - khổ đau của Ngưu Lang và Chức Nữ đang hạnh phùng trên nhịp cầu Ô Thước sau bao năm cách biệt nhưng luôn tưởng nhớ đến nhau và luôn mong mỏi, chờ đợi những ngày của tháng bảy xa xôi.

 

Ai đă từng đến Huế vào mùa mưa mới có thể hiểu được nỗi ḷng của vùng đất Cố đô, và lúc này cũng là dịp để ḷng người lắng dịu lại, hoà vào thiên nhiên sau bao tháng ngày tất bật giữa chốn huyên náo v́ chuyện áo cơm…Vào mùa mưa không gian Huế như co hẹp lại chỉ c̣n ta đối diện với ta trong tâm trạng buồn man mác, vừa cô đơn pha lẫn khinh bạt và có lẽ cũng chính nhờ mưa mà con người xứ Huế có một đời sống nội tâm phong phú và sâu lắng.

 

Những ai đă trải qua thời thanh niên và ngay cả đến tuổi trung niên hay lăo niên từng ngồi những góc quán, bên chiếc bàn gỗ cũ kỹ với những giọt cafe đang rơi điềm tĩnh, ngoài trời th́ mưa mịt mùng, cả một con đường vắng ngắt đang nở hoa, những đoá hoa mưa trắng xoá vỡ ra từ mặt đường như những bông Huệ trắng ngát hương đang tiễn đưa hồn người cô quạnh về nơi chốn xa xăm, ảo huyền… Trong quán cafe, chất giọng ấm áp, rất gần gũi và thần thánh của một ca sĩ lại khẽ vang lên. Giọng ca ấy, sự lựa chọn định mệnh của lịch sử, khi hát lên những t́nh ca của Trịnh Công Sơn sẽ làm cho ḷng người lắng dịu, đưa người nghe về với kỷ niệm đẹp và những kư ức vui buồn, những kỷ niệm chỉ thoáng qua cuộc đời và lưu giữ trong không gian kỳ diệu của năo bộ, không gian rất nhỏ bé mà chứa tất cả mọi sự, cả trời đất, vạn vật nhưng đôi khi không lưu giữ nổi một chữ nghĩa t́nh. Khi nghe những ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tôi thường tự hỏi: phải chăng, anh Sơn đă từng lắng nghe mưa, thể nhập vào mưa và cho ra đời các bản nhạc Ướt mi, Diễm xưa, Mưa hồng...? Chỉ khi nào hội đủ những yếu tố về cảm xúc, không gian, thời gian, âm thanh và h́nh ảnh th́ chúng ta sẽ trở về với thế giới nội tại, một thế giới thẳm sâu, kín đáo bên trong mỗi con người, có buồn vui, có hoan lạc, có khổ đau … nhưng rất ư vị và có thể gọi là “thú đau thương”, biểu hiệu qua xúc cảm mỗi người khi “nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa, mưa bay trong ta bay từng hạt nhỏ”, hay ngồi bên song cửa nh́n ra “ngoài hiên mưa rơi rơi ḷng ai như chơi vơi”, hay “tôi thu tôi bé lại làm mưa tan giữa trời”,… Đó chính là đời sống nội tâm giúp cho mỗi cá nhân từng bước nh́n lại bản thể chính ḿnh trong hành tŕnh cuộc sống như những cơn mưa dầm dề mùa đông xứ Huế ngút ngàn, xoá nhoà những ranh giới giữa trời đất và muôn vật.


KƯ ỨC MÙA PHẬT ĐẢN

Hàng năm đến mùa sen nở thành phố như được thắp lên bởi những sắc màu lung linh, ảo diệu từ những chiếc đèn lồng h́nh hoa sen, h́nh ngôi sao, h́nh bánh ú, h́nh cá chép,… và những lá cờ ngũ sắc tung bay khắp mọi ngă đường, góc phố của xứ Huế.

 

Mùa trăng tháng Tư, các hồ bao quanh kinh thành xứ Huế rộ nở những đoá sen trắng ngần toả hương thơm d́u dịu. Mùa trăng tháng Tư là thời gian Đức Phật ra đời. Dưới cái nắng ói bức của mùa hè xứ Huế mọi vật như chuyển động nhanh hơn, người người hối há dưới những bóng cây lốm đốm những đoá hoa nắng vàng hoe. Những gánh đèn lồng dập d́u đủ các sắc màu trên vai các o, các chú đang đánh nhịp rất uyển chuyển, nhịp nhàng giữa phố thị.

Hầu hết, ở các dăy phố lớn nhỏ và trong tận những góc xóm, những miệt vườn trước mỗi nhà đều có treo đèn lồng và những lá cờ ngũ sắc. Có những ngôi nhà, chủ nhân c̣n dựng nên khung cảnh thời Đức Phật ra đời, hoặc dựng những đài sen lớn có h́nh ảnh vị thái tử Tất Đạt Đa đang chỉ tay lên trời.

 

Nơi các ngôi chùa, tịnh xá, khuôn hội các Phật tử, quư tăng ni đang cùng nhau trang trí, treo cờ ngũ sắc, biểu ngữ, đèn lồng và dựng lễ đài chuẩn bị đón lễ Phật Đản, tất cả đều diễn ta trong sự tôn nghiêm cung kính.

 

Xứ Huế được xem là kinh đô Phật giáo của cả nước, một vùng đất có truyền thống Phật giáo và bề dày văn hoá tâm linh. Trải qua bao thời đại, đă có cả trăm ngôi chùa được dựng lên ở vùng đất Cố đô, trong đó có những ngôi chùa cổ đă tồn tại hàng trăm năm và gắn liền với những điển tích lịch sử.

 

Hăy tưởng tượng, vào ngày Phật Đản tất cả các ngôi chùa trên trái đất, và hàng triệu ngôi nhà đang thắp lên những sắc màu, và hàng trăm triệu những ni, sư, những người Phật tử,… đang cùng nhau tưởng nhớ đến ngày ra đời của Đức Phật. Tất cả những tâm thức đó cùng hướng về một h́nh ảnh hoàn mỹ, cao cả và những tâm thức đó sẽ hợp lại tạo nên một ḍng tâm lực bi, trí, dũng lan toả khắp mọi nơi. 

 

Ngày lễ Phật Đản, những trục đường chính ở Huế từng đoàn xe hoa đang từ từ chuyển bánh, hai bên đường là những ḍng người đang vẫy cờ ngũ sắc chào đón trong không khí an vui. Trên mỗi xe được gắn rất nhiều hoa và có h́nh ảnh đức Phật Thích Ca đang nở một nụ cười bao dung, rộng lượng.

 

Khi ánh nắng vàng tươi nhấp nhô trên những phiến lá non đang khẽ rung rinh theo làn gió ban mai, những ḍng người trong trang phục màu lam, với những tà áo dài của các chị, các cô, những bộ đồng phục của các anh, các chú đang nhấp nhô hướng về phía các ngôi chùa. Đặc biệt, trên hai tuyến đường Phan Bội Châu, Điện Biên Phủ là những con đường dẫn đến rất nhiều ngôi chùa. Trên hai con dốc này, những ḍng người nối nhau, tay cầm cờ ngũ sắc tung bay trong gió, trong nắng,… Những bước chân hướng về Đức Phật trong niềm hân hoan, tôn kính thể hiện qua ánh mắt, nụ cười…

 

Tôi dừng lại một góc phố trên đường Sư Liễu Quán, con đường mang tên vị thiền sư danh tiếng, một cao tăng đă cống hiến cả cuộc đời cho chánh pháp, quên ḿnh v́ nước v́ dân. Con đường Sư Liễu Quán nho nhỏ thật khiêm tốn là lối đi để vào khuôn viên chùa Từ Đàm. Quanh lễ đài trong chùa Từ Đàm, h́nh ảnh các chư tăng trong những chiếc cà sa vàng rực đang chuẩn bị cho đại lễ Phật rất long trọng. Từ trong khuôn viên chùa Từ Đàm kéo dài và lan rộng đến ba con đường Sư Liễu Quán, Phan Bội Châu và Điện Biên Phủ người người tấp nập đứng ngồi lắng nghe lời thuyết pháp từ các chư tăng rất đầm ấm, mang ư nghĩa sâu sắc, dễ đi vào ḷng người đang vang vọng từ ngôi chùa Từ Đàm. Ngày rằm tháng tư, tất cả các ngôi chùa ở Huế và có lẽ trên khắp cả hành tinh này đều vang vang những bài pháp của Đức Phật. Tuy mỗi quốc gia có một ngôn ngữ khác nhau, nhưng tôi tin rằng những làn sóng âm thanh được phát ra từ Phật tâm đang hoà vào nhau để tạo thành một luồng pháp lực lan toả khắp nơi trong không gian để đánh thức những linh hồn đang c̣n ch́m trong mê đắm và khơi dậy Phật tánh nơi mỗi chúng sanh.

Khi màn đêm buông, bầu không gian xứ Huế như nở hoa, những đoá hoa đủ các gam màu xanh, đỏ, vàng, tím… trước mỗi ngôi nhà, mỗi miệt vườn, góc phố. Lúc này, tiết trời dịu hẳn bởi những cơn gió đêm mang theo hương thơm của những đoá sen hồng, sen trắng đang rộ nở nơi các ao hồ phủ quanh Kinh thành.

 

Tôi dừng lại bên ḍng sông Hương thơ mộng để hóng mát và đứng xem những chiếc thuyền hoa rực rỡ đang diễu hành rất uy nghi. Trong những chiếc thuyền hoa, hàng loạt những hoa đăng được thả nhấp nhô trên sóng nước. Lúc này, sông Hương thật lung linh, huyền ảo. Ḍng nước lấp lánh những toà lâu đài bằng pha lê với đủ các sắc màu. Những ngọn hoa đăng bồng bềnh theo gió, mỗi ngọn hoa đăng như đang thắp sáng một ước mơ cao quư của đời người. Tôi nh́n một ngọn hoa đăng đang trôi sau cùng mà liên tưởng đến h́nh ảnh của những vị bồ tát đang ch́m ḿnh trong nỗi khổ của nhân loại với đại nguyện cứu độ tất cả chúng sanh thành Phật. Từ giă chốn đông người, tôi bộ hành đến hồ Tịnh Tâm để thư giăn sau một ngày lang thang khắp phố. Mặt nước hồ phẳng lặng đang hứng trọn ánh trăng rằm tháng tư, chốc chốc những hạt sương đọng trên lá cỏ rơi xuống chạm mặt nước tạo nên những ṿng tṛn, khiến cho bóng trăng dưới hồ sóng sánh tan vỡ, và khi những sóng nước h́nh tṛn tan biến, bóng trăng dưới đáy hồ lại hiện nguyên h́nh tṛn vành vạnh. Cảnh vật đêm quanh hồ Tịnh Tâm thật yên ắng và như được bao phủ bởi một bầu hương sen ngào ngạt cứ lân la d́u dặt, nâng tâm hồn tôi vào cơi miền tịch lặng... Nơi phía xa xăm h́nh ảnh thái tử Tất Đạt Đa vừa ra đời đang bước đi bảy bước, trên mỗi bước đi của vị thái tử nở rộ một đoá hoa sen vô nhiễm toả hương thơm khắp mọi nơi.


NGƯỜI ĐI T̀M LẠI “TIẾNG HUẾ”

Ngôn ngữ gắn liền với văn hoá của một dân tộc nói chung và mỗi vùng đất nói riêng. Với Cố đô Huế, một thành phố có nền văn hoá đa dạng hoà lẫn vào nhau làm thành một xứ Huế đậm đà bản sắc riêng. Điều đặc biệt về văn hoá Việt Nam nói chung và Huế nói riêng là được ví như nước trong biển cả, bao nhiêu nguồn nước khác đổ vào đều được dung nạp và lan toả rộng răi, nhanh chóng nhưng vẫn giữ được nét truyền thống. Và điều khác lạ là tiếng Huế rất khác biệt không thể nhầm lẫn với tiếng ở những địa phương khác được.

 

Nhớ một chuyến du hành vùng thôn dă vào năm 1993, tôi cùng thầy giáo Lê Ty ghé thăm ngôi nhà rường giản đơn của anh Lê Trường Quỳnh bên ḍng sông Bạch Yến thơ mộng ở làng Lựu Bảo, xă Hương Hồ, huyện Hương Trà. Đó là lần đầu tiên tôi được gặp anh Quỳnh.

 

Vậy là sau thời gian tṛ chuyện, tôi phát hiện cả ba người cùng họ Lê, ngồi nói chuyện về ba thế hệ. Anh Quỳnh lúc đó đă sáu mươi tuổi, thầy giáo Lê Ty bốn lăm tuổi và tôi hồi đó hai lăm tuổi. Vậy mà đến bây giờ đă mười năm, tôi gặp lại anh Quỳnh với dáng vẻ già cỗi hơn rất nhiều, nhưng tâm hồn và tính cách bông đùa đầy ẩn dụ của anh không giảm đi mà c̣n tăng lên theo tuổi tác. Mười năm trôi qua, tưởng chừng như có rất nhiều đổi thay, nhưng con người có lối sống riêng vẫn âm thầm ở ẩn, vui với miệt vườn, với đất đá, với cây cỏ, hoa lá và đặc biệt là mai trong đá, nh́n những dáng đá, những thế mai và nh́n anh, tôi phát hiện rằng chính anh là một cội mai trưởng lăo. Khu vườn nhà anh có rất nhiều chủng loại cây, nhưng đặc biệt nhất là mai trong đá, anh dành một khoảng sân trước nhà để làm nơi an toạ cho hơn năm mươi  gốc mai trong những dáng đá.

 

Vào một buổi chiều khi ánh nắng chuẩn bị khuất sau lưng đồi, tôi lại nhớ đến con người kỳ lạ này và ghé thăm anh, lần này tôi thấy một bản photocopy cuốn Từ điển Tiếng Huế đang ở trên bàn, tôi lật xem và biết tác giả là bác sĩ Bùi Minh Đức, bản sao này có ghi bản dành cho anh Quỳnh do anh Đặng Ngọc Phú Hoà gửi. Một hồi tṛ chuyện và biết anh Quỳnh có tham gia vào việc bổ sung, hiệu đính cho cuốn tự điển tiếng Huế, anh Quỳnh cho biết anh làm việc này một phần là do yêu cầu của bầu bạn và tôi được biết lư do chính cho công việc đó là anh Quỳnh có một sự đồng cảm với tác giả Bùi Minh Đức về tấm ḷng rất thành kính đối với Mạ. Tiếng “Mạ” mà anh Quỳnh nói ra sao mà kính cẩn, bao la và mang nặng một nỗi niềm sâu kín vượt cao lên trên cả hiếu thảo, cả luân thường đạo lư. Những năm cuối đời Mạ, anh Quỳnh đă ở với bà và đă có những buồn vui, trăn trở, những đắng cay, xót đau về Mạ. Từ nỗi niềm mẫn cảm sâu sắc đó anh Quỳnh đă gặp lại đồng nghiệp từ thuở xa xưa, đă xa cách mấy chục năm trời. Vậy là cuốn Từ điển Tiếng Huế sau mười năm được tác giả Bùi Minh Đức, vị bác sĩ với tấm ḷng hiểu thảo với cha mẹ mà đă dày công cho ra đời một tác phẩm rất giá trị về văn hoá cho xứ Huế nói riêng và nói chung cho cả đất nước, và giá trị hơn cả là tấm ḷng của người con đối với “Mạ”. Công việc đồ sộ đó đúng ra để  thực hiện được và có kết quả như ngày hôm nay, tôi thiết nghĩ rằng phải có cả một “bộ sậu” biên soạn với rất nhiều tâm huyết, công sức và cả vấn đề tài chính. Bây giờ điều đáng mừng là có thêm một người tham gia, và hai tác giả này trước đây đă từng làm trong ngành y, cùng chung pḥng tại Bệnh viện Trung ương Huế. Giờ đây họ lại cùng nhau để làm cho Huế một cuốn tự điển với cùng chung một mong muốn là để lưu lại tiếng nói mẹ, tiếng nói cha, tiếng nói của tiền nhân, những người đă làm nên một Thuận Hoá, Phú Xuân và bây giờ là Huế mà không nơi nào giống được cho dù chỉ na ná.

 

Để ngày ngày có thêm những chữ, những tiếng bổ sung cho công tŕnh ngôn ngữ đầu tiên của Huế, anh Quỳnh phải miệt mài bên đèn khuya, miệt mài như một cội mai già đang ngày đêm gom góp một phần tinh hoa của trời đất chuẩn bị cho những nụ hoa mai nở rộ, rực vàng nhằm mang lại niềm vui cho mọi nhà, mọi người mỗi độ xuân về. Trông anh Quỳnh mà tôi liên tưởng đến một vận động viên điền kinh đang chạy đua với thời gian, chữ càng dài th́ anh càng già, có nghĩa là phần đời của anh càng ngắn lại, anh già như cội mai vàng cổ xưa của xứ Huế,  những năm tháng cuối cuộc đời anh đă xem cây mai như người bạn tâm giao. Thỉnh thoảng cứ vài ba tuần, tôi lại rong chơi những vùng ven thành thị, những vùng đất chỉ cách thành phố độ chừng năm cây số nhưng vẫn c̣n hương thơm của đồng nội, vẫn c̣n “rặt” Huế trong những tiếng cười, những lời nói, cử chỉ... của những con người miền thôn dă. Trong những chuyến lang thang đó, lần nào tôi cũng ghé thăm anh Quỳnh và mỗi lẫn ghé anh th́ đều nghe thêm, học thêm được những chữ, những tiếng mà anh vừa t́m ra, rồi giải thích nguồn gốc và ư nghĩa. Như thành ngữ “Cạn tàu ráo máng”, nghe anh giải thích xong, tôi vui quá về nhà liền giải thích với mọi người. Anh Quỳnh bảo rằng, nguồn gốc của thành ngữ trên phát xuất từ công việc đạp nước của nhà nông để dẫn nước vào ruộng đồng, hệ thống đạp nước gồm có tàu chứa nước là một vùng đất trũng, hệ thống xe gỗ nối nhau để vận chuyển nước... , khi người nông dân dùng đôi chân để đạp nước th́ hệ thống xe gỗ chuyển động liên tục theo ṿng quay để đưa nước dưới tàu theo hệ thống xe gỗ lên máng dẫn vào ruộng đồng, khi nước dưới tàu cạn rồi, không c̣n nước để đưa lên th́ máng cũng ráo. Một ngày đẹp trời, tôi “thồ” anh Quỳnh đi quanh phố thị, sau khi ghé thăm những người bạn của anh, rồi đến nhà thầy giáo Nguyễn Văn Dũng, anh Dũng là người đă chuyển những bản thảo của anh Quỳnh đến bác sĩ Đức. Trong cuộc tṛ chuyện anh Dũng đă  ghi lại một cách thích thú những chữ, những câu ca dao thật xưa mà anh Quỳnh đă đọc và giải thích. Sau cùng anh Quỳnh “tŕnh” anh Dũng sản phẩm để bổ sung cho cuốn Từ điển Tiếng Huế. Tôi nh́n tập bản thảo mà ḷng cảm kích vô cùng, một cụ già có bộ tóc dài ngang vai, bạc phơ phơ, dáng gầy g̣, vậy mà c̣n giúp ích cho đời những điều quư giá như vậy, thầm nghĩ mà ḷng tự thẹn với chính ḿnh.

 

Có những con chữ đă “hành” tấm thân già anh Quỳnh phải đi thực tế đến những làng quê như Sịa, và những làng ở tận huyện Phú Lộc. Đêm ngày anh luôn suy ngẫm, chiêm nghiệm về những tiếng, những chữ để truy t́m tung tích, nguồn gốc, ẩn nghĩa và nguyên nghĩa. Ngoài ra, anh c̣n bổ sung nhiều địa danh có nguồn gốc rất xa xưa mà ngày nay hầu như mọi người đă quên lăng.

 

Thời gian vừa qua bác sĩ Bùi Minh Đức đă liên lạc được với anh Lê Trường Quỳnh sau bao năm cách biệt, thời gian đă dài không gian lại càng mênh mông, bác sĩ Đức bây giờ ở cách anh Quỳnh cả một đại dương bao la. Dù xa cách như vậy, nhưng t́nh người, t́nh yêu và tấm ḷng thành kính với mẹ cha đă làm cho hai người gặp lại nhau, để cùng góp một phần không nhỏ cho việc bảo tồn và phát huy văn hoá Huế. Trong cuộc gặp gỡ họ vui mừng và động viên nhau để cùng tiếp tục hoàn thiện cuốn sách nhằm để nhớ và lưu truyền giọng nói của Mạ cho con cháu mai sau khỏi quên tiếng nói của quê Hương. Được tin cuốn Tự điển Tiếng Huế sắp tái bản lần thứ hai trong năm nay, tôi tin rằng cứ mỗi lần tái bản tiếp theo cuốn sách lại chính xác hơn và  dày thêm, chỉ tiếc rằng tuổi của anh Quỳnh đă thất thập cổ lai hy, người có trí nhớ như anh Quỳnh lại rất ít và những người có tấm ḷng như bác sĩ Bùi Minh Đức và anh Lê Trường Quỳnh ngày càng khan hiếm. Tôi ước mong rằng có một phép lạ nào đó để anh Quỳnh có sức khoẻ thật tốt và tuổi thọ của anh được kéo dài hơn nữa nhằm giúp cho anh hoàn thành tâm nguyện là lưu lại tiếng nói hằng ngày của Mạ vẫn măi măi c̣n đọng trong tâm tưởng của anh, một người con đă để tang Mạ suốt cả cuộc đời và c̣n muốn mang theo sau khi xong phận làm người, đó là lời chân thật phát ra từ tấm ḷng của người con đối với Mạ, mà anh Quỳnh đă nói với tôi trong một buổi chiều khi nắng lưng đồi đang ch́m vào không gian bí nhiệm, nhường chỗ cho màn đêm sâu thẳm và ánh trăng non đầu rằm tháng tư đang toả sáng bầu trời một cách khiêm nhường, rộng lượng như ánh mắt nhân từ của mẹ hiền đang dơi theo từng bước đi của con cháu suốt cả cuộc đời.


V̉NG TR̉N HUYỀN ẢO

Năm nào cũng vậy, khi những cánh én vi vu, lượn tṛn giữa nền trời trong xanh, những cánh hoàng mai hé nở và muôn hoa đang e ấp chuẩn bị đón xuân, đă khiến cho ḷng người rộn ràng, vui nhộn... Thật lạ lùng, một năm trôi qua cũng đồng nghĩa là mỗi người được thêm một tuổi, tức là tiến dần về cái giới hạn nghiệt ngă của đời người, vậy mà người người vẫn hân hoan đón nhận. Người ta thường nói “Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn”. Phải chăng, đôi mắt là giác quan rất nhạy cảm của con người. Bởi mọi cảm xúc, tâm trạng của mọi người đều biểu lộ qua đôi mắt. Có lẽ cũng do sự nhạy cảm của nhăn quan mà người ta thường gọi “mắt” là “con mắt”, như ư thơ của Bùi Giáng lăo nhân được Trịnh Công Sơn chuyển thành nhạc: “C̣n hai con mắt khóc người một con / C̣n hai con mắt một con khóc người”. Từ khi vừa lọt ḷng mẹ, biết bao đối tượng của nhăn quan như: ánh sáng, bóng tối, màu sắc, những đường nét cong, thẳng, tṛn… đă giúp trẻ thơ cảm nhận được sự vật. Đôi mắt trẻ thơ sáng ngời, hồn nhiên như giấy mới, trắng tinh và trong lành như hạt sương mai mơ mộng. Từ đôi mắt mang h́nh lá thơ ngây nh́n vào thế giới của h́nh thể và biểu tượng. H́nh thể là những đường nét kết hợp với màu sắc, biểu tượng là những h́nh ảnh ngụ ngôn dẫn dắt con người vào thế giới siêu h́nh. Đạo Phật có câu: “Cái thấy không ở nơi con mắt ”. Đúng vậy, bởi trong những giấc mơ, mặc dù chúng ta đang ch́m trong giấc ngủ miên man, nhưng những h́nh ảnh của cuộc đời vẫn cứ hiện ra một cách rơ ràng, như thật. Hay những cơn đau trong giấc mơ cũng cảm giác như đau thật. Và đối với những người khiếm thị phải chăng họ vẫn thấy, có khi cái thấy của họ c̣n thật hơn với một số người khác có đôi mắt b́nh thường?  Ṿng tṛn đầu đời của mỗi người phải chăng chính là khuôn mặt trái xoan mẹ hiền tŕu mến! Và trong ánh mắt nhân từ đó đă toát ra một t́nh thương bao la của tấm ḷng người mẹ đối với con ḿnh. Tuổi thơ lớn dần theo những ṿng tṛn bởi các tṛ chơi từ những chiếc xuyến đeo cổ, những chiếc ṿng màu ngọc, nhẫn đồng đeo tay, những viên bi tṛn với nhiều màu sắc sặc sỡ lăn trên mặt đất quen thuộc, những đồng tiền xu, những chiếc bong bóng đủ sắc màu chập chờn trong kư ức,…và rất nhiều vật thể h́nh tṛn đă hấp dẫn thế giới của tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng như ánh trăng mười sáu tṛn vành vạnh, hiền hoà giữa nền trời bao dung. Các hiện tượng xảy ra trong thế giới này, phải chăng là theo một quy luật tuần hoàn, như đêm và ngày, như bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông cứ luân phiên trong năm. Xa hơn nữa là những quỹ đạo của các hành tinh trong thái dương hệ, trong đó có trái đất thân yêu của chúng ta đang sống mà hàng ngày, hàng giờ,… trong mỗi thời khắc luôn vận động, mọi sự vật tuân theo quy luật sinh, thành, hoại, diệt… Những ṿng tṛn đă khảm vào tâm trí tôi từ thuở tuổi c̣n thơ.

 

Nhớ hồi thanh xuân, khi những thế hệ trẻ say mê tập luyện, nghiên cứu vơ đạo. Vào một sáng sớm mùa xuân, không khí trong lành, đường phố hân hoan với những đoá hoa nắng vàng hoe nở rộ trên những mặt người, trên những đám lá xanh non đang nô đùa cười nhẹ theo làn gió xuân và mỗi bước chân nhẹ nhàng ngày đó đă đưa tôi đến sân tập Hiệp Khí Đạo (AIKIDO) ở đường Huỳnh Thúc Kháng - Huế, do thầy Lê Viết Đắc huấn luyện. Hiệp Khí Đạo là môn vơ thiên về luyện tinh thần, tập trung tư tưởng ở nhất điểm, trọng tâm cơ thể, giữ thăng bằng ở mọi tư thế và áp dụng quy tắc ṿng tṛn. Những ṿng tṛn lớn, nhỏ cứ quanh quẩn trong tâm trí tôi, mặc dù trước đó tôi đă được học qua môn vơ khác. Nhưng tôi không khỏi ngạc nhiên bởi tính khoa học và phương pháp tập luyện đặc biệt của môn vơ này. Tôi vẫn c̣n nhớ như in những lời Thầy đă dạy về ḷng nhân ái, với ánh mắt nhân từ và dáng đi thư thái, trông Thầy không giống như một người theo nghiệp vơ chút nào. Cứ sau mỗi buổi tập là những phút thư giăn, sân tập im lặng, chỉ c̣n nghe âm thanh của hơi thở nhè nhẹ của các vơ sinh đang điều hoà thân tâm, và trước khi rời sân tập lời Thầy lại vang lên về môn vơ t́nh thương, Thầy thường nhắc lại lời của tổ sư sau mỗi buổi tập. Đă nhiều năm tập luyện liên tục, ngày hai buổi sáng sớm và xế chiều, nhưng chưa lúc nào tôi thấy một đ̣n thế chủ động tấn công của môn vơ này. Thật đúng với lời của tổ sư Morihei Ueshiba, Hiệp Khí Đạo là môn vơ của t́nh thương, nghệ thuật đem lại hoà b́nh, các vơ sinh học để pḥng thủ và áp dụng nguyên tắc ṿng tṛn để hoá giải những đ̣n tấn công của đối phương, và rộng hơn là đưa Hiệp Khí Đạo vào trong cuộc sống, mà vơ sư Koichi  Tohei  đă  nói  đến trong tác phẩm Hiệp khí đạo trong  đời sống hàng ngày. Nghĩa là trong bất kỳ môi trường nào, hoàn cảnh nào những môn sinh của Hiệp Khí Đạo phải sống với tinh thần hoà hợp của môn vơ t́nh thương và đạo lư làm người. Nhưng điều kỳ diệu hơn nữa là vị tổ sư của Hiệp Khí Đạo với dáng người nhỏ nhắn, mảnh khảnh nhưng ngài đă chứng tỏ cho cả thế giới biết sức mạnh của ḷng từ bi, của sự  hoà hợp với vũ trụ bởi câu nói nổi tiếng: “Người nào giao đấu với tôi là giao đấu với cả vũ trụ”. Hiệp Khí Đạo là một trong những con đường dẫn dắt chúng ta bước vào một thế giới đại đồng, hiệp nhất với trời đất, vũ trụ bao la đầy bí ẩn.

 

Phải chăng, tất cả các hành tinh trong vũ trụ này đều có h́nh dáng của khối cầu và chuyển động theo một quỹ đạo? Điều này có thể sẽ liên quan đến những ṿng tṛn huyền bí trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Từ xa xưa đă có một người từ giă ngai vàng, từ bỏ mọi vinh hoa, phú quư của trần gian và đem cả sinh mạng để đánh đổi, nhằm t́m ra chân lư tối thượng của cuộc đời, người đó chính là Đức Phật Thích Ca, Người đă chỉ cho chúng ta thấy rơ ṿng tṛn vô minh mà mọi người măi miết theo đuổi, một ṿng tṛn vô h́nh vô ảnh. Và ṿng tṛn huyền diệu nhất, cao quư nhất của đời người là một ṿng tṛn rỗng không nhưng bao trùm cả vũ trụ, bao trùm cả tam thiên đại thiên thế giới. Phải  chăng đó chính là tánh không (Sūnyat࣑) sẵn có trong mỗi người mà Đức Phật đă chỉ cho nhân loại, mà đa số mọi người đă lầm tưởng tánh không là hư vô, là không có ǵ. Và để nhắc nhở cho nhân loại khỏi sự lầm lẫn đó, Đức Phật đă chỉ ra ṿng tṛn luân hồi luôn quay quanh chúng ta, quay tṛn quanh mỗi đời người như h́nh với bóng cho đến khi mỗi cá nhân hoà nhập vào ṿng tṛn rỗng không huyền diệu.


RẰM VÀ MỒNG MỘT

Thời gian như một ṿng tṛn khổng lồ có đường kính vô tận, trong ṿng tṛn khổng lồ đó có những ṿng tṛn nhỏ. Như một giáp (12 năm) được biểu tượng bởi 12 con vật luân phiên xoay ṿng, hay sự tuần hoàn của bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông và rồi mỗi tháng, mỗi tuần, mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây,… cứ thể luân chuyển theo những ṿng tṛn. Mỗi thời khắc trôi qua, ṿng tṛn lại mở rộng dần và theo nghĩa tuyến tính th́ đời sống mỗi con người dần dần ngắn lại.

Theo lịch âm, mỗi tháng có hai ngày là ngày rằm và mồng một, người Huế có truyền thống ăn chay và cúng rằm (thường cúng đêm 14) và cúng đêm 30. Có nhà ăn chay mỗi tháng 4 ngày; ngoài ngày rằm và mồng một c̣n thêm ngày 14 và ngày 30, có người ăn chay 10 ngày, ăn chay 3 tháng vào hạ, ăn chay trường. Người Huế gọi ăn chay là ăn lạt. Lễ vật để cúng rằm, mồng một rất đơn sơ, tuỳ vào mỗi gia cảnh. Nhưng không thể thiếu hương đèn và bông ba hoa quả. Trong lễ cúng rằm và mồng một thường kèm theo lễ phóng sanh. Lễ phóng sanh gồm có một thau nước chứa các động vật đang c̣n sống như cá trê, cá tràu, lươn, cua hay các loại ốc, hay chim én,… Sau khi hương tàn, lễ cúng xem như kết thúc. Gia chủ đem các sinh vật thả xuống sông, hay thả bay giữa trời, vừa thả vừa đọc những câu kinh phóng sanh.

 

Những h́nh ảnh đó đă khắc vào tâm tưởng tôi. Đến bây chừ tôi hiểu lễ phóng sanh c̣n có một hiệu ứng tâm lư là phóng đi những ư nghĩ, hành động ác độc trong mỗi người. Theo truyền thống gia đ́nh tôi cũng ăn chay một tháng 2 ngày, và có một khoảng thời gian dài ăn chay trường đến 5 năm. Nhưng rồi do công việc và hoàn cảnh hay suy cho cùng do duyên nghiệp nên không thể tiếp tục ăn chay. Nhưng cố gắng mỗi tháng 2 ngày, chỉ 2 ngày thôi, thế mà có hôm không giữ nổi. Nếu không có Tết cổ truyền, thế hệ trẻ ngày nay hầu như không c̣n để ư đến lịch âm. Ở Huế, cứ gần đến ngày rằm, mồng một th́ các chợ loanh quanh thành thị sẽ xuất hiện những gánh bông Thọ, bông Cúc, bông Huệ,... của các mệ, các o, các d́ ngồi bán ven đường cạnh các chợ. Chúng ta chỉ cần thấy những gánh hoa b́nh dị đó là biết sắp đến ngày rằm hay mồng một. Hễ đến ngày rằm và mồng một hầu như các quán bún ḅ gị heo ở Huế lại chuyển sang bán bún chay. Dọc các vỉa hè, những gánh bún ḅ thường ngày bỗng nhiên lại đông khách hơn, bởi v́ những quán khác nếu không bán bún chay th́ họ cũng nghỉ bán. Nên khách lại dồn đến các gánh bún chay. Bún chay, nghe thật giản đơn nhưng để chuẩn bị một gánh bún chay, những mệ, những o, những chị lại mệt hơn thường ngày, họ phải đi chợ từ chiều hôm trước và phải thức dậy sớm hơn thường ngày để chuẩn bị. Nào là nấm, khoai tây, khoai lang, đậu khuôn, đậu ngự, miếng, nước tương, chao, vị tâm, đậu phụng, dầu phụng, mè, rau sống…  Nói về khẩu vị th́ tuỳ vào vị giác mỗi người. Nhưng xem ra, bún chay sau 2 tuần mới được thưởng thức một lần lại chiếm ưu thế. Dạo này, tôi thường ăn bún chay tại vỉa hè đường Trần Hưng Đạo. Mỗi lần ghé ăn tôi đều chủ động, nhưng lần nào cũng vậy đang ngồi vỉa hè ăn chay, th́ khách ghé vào có người quen th́ ngồi vui vẻ, những người lạ không phân biệt 2 ngày trong tháng th́ phát ra một tiếng “chay à” rồi ngần ngừ, có người ngồi xuống ăn, nhưng cũng nhiều người bỏ đi. Dù họ ăn chay hay không ăn chay nhưng những hương vị, h́nh ảnh và tác động tâm lư đă phần nào như nhắc nhở mọi người rằng, Huế vẫn c̣n một tháng 2 ngày để ăn chay. Xứ Huế rất nhiều quán chay b́nh dân thường xuyên phục vụ cho mọi người như quán cơm chay Tịnh Ư ở đầu đường Lê Huân, quán chay Bồ Đề ở góc đường Bà Triệu, đường Chu Văn An, quán chay trường kỳ nhất vẫn ở số 47 đường Xuân 68 và đầu đường Hàn Thuyên, hiện nay đă phát triển thành 3 quán liền nhau ở số 1, số 3 và 9 Hàn Thuyên,… Trong các quán chay gồm có các món rất đạm bạc như: cơm với các thức ăn là thực vật, cháo chay, bún chay, các loại bánh chay như: bánh cuốn, bánh bèo, bánh lọc… và c̣n có cả chả chay. Theo giáo sư OHSAWA ngoài phép dưỡng sinh, chữa bệnh: ăn cơm gạo lức với muối mè,  th́ phương pháp ăn uống đem lại sự quân b́nh âm dương sẽ chữa được rất nhiều chứng bệnh mà thức ăn chủ yếu là thực vật. Người xưa quan niệm rằng ăn uống thực vật là thuận âm dương, hợp lẽ trời th́ dễ cảm thông với trời đất, nên các vua chúa ở Á Đông trước khi làm lễ tế Trời, các vị phải thanh lọc cơ thể để có một tinh thần tinh khiết trong một thể xác lành mạnh bằng cách ăn chay nằm đất một thời gian. Ở Huế, các vị vua trước ngày tế trời ở đàn Nam Giao cũng phải ăn chay nằm đất trong ba ngày.

 

Việc ăn chay là một trong nhiều giới hạnh của các tu sĩ Phật giáo trong các chùa Bắc tông, từ đó thông qua các Phật tử mà lan toả ra xă hội. Ngày nay, ăn chay đă trở nên phổ biến và được áp dụng một cách khoa học ở nước ta, các nước châu Âu, châu Mỹ,… và việc ăn chay trở thành nét ẩm thực mới đối với mọi người. Ăn chay là nét văn hoá từ xa xưa và đang phát triển theo thời đại. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi các đại dịch gia cầm đang bùng phát th́ việc ăn chay nên được quảng bá rộng răi.


HOA MƯA

Những ngày mùa đông, màu trời xứ Huế thường ảm đạm mang mang nỗi buồn cố tri, mưa trắng nhoà cả không gian, những hạt mưa chạm xuống mặt đường toé lên như những nụ hoa trắng nở ra từ những con đường ủ đầy cây lá rồi như chưa kịp úa tàn đă tan vỡ, hoà vào đất. Thấy và cảm được cuộc đời ngắn ngủi của Hoa Mưa mà nhớ đến thân phận kỳ lạ của Quỳnh Hương và của muôn loài hoa khác. Mưa xứ Huế kéo dài từ ngày này sang ngày khác, khó có thể phân biệt được buổi sáng, buổi trưa hay buổi chiều, chỉ biết ngày và đêm. Ngồi bên cổ thành phía tây nội cung. Đoạn thành ở cửa Hoà B́nh như bức tranh phế tích. Sự đổ nát đôi khi cũng làm nên một vẻ đẹp bi hùng tráng lệ. Nhớ những đêm mùa đông, vào các ngày lễ phía trước Ngọ Môn ánh đèn vàng phả vào không gian trộn lẫn hơi mù lan đến tận phía hậu cung càng làm nổi bật lên sự bí ẩn của cổ thành đổ nát. Những bóng người lờ mờ qua lại dọc bờ thành, những ánh mắt thân yêu qua ánh sáng của những ngọn nến trong quán nhỏ. Họ ngồi như thể để chiêm nghiệm về một thời đă qua. Tất cả h́nh như đều cảm được sự bi hùng thành quách đang sừng sững trước mắt và những cành Sứ trơ trụi, đơn độc giữa bầu trời như những dáng h́nh vũ nữ nơn nà đang nhảy múa, uốn lượn theo tiết điệu Champa xưa xa, bờ thành như trở thành sân khấu cho các diễn viên tưởng tượng trong tâm trí tôi, đồng thời cũng làm b́nh phong chung thuỷ cho những đôi t́nh nhân đang tự t́nh. 

 

Hằng đêm, bên ánh nến toả lập loè qua khung cửa sổ được đan kết bằng những thanh tre, h́nh ảnh một goá phụ có đôi mắt nghiêng buồn nh́n xa xôi như đang chờ đợi, hay đang trở về với những kỷ niệm đẹp của thời thanh xuân. Ánh mắt mơ màng hụt hẫng ấp ủ tự thuở xa xăm nào, đă làm biết bao chàng trai phải ḷng. H́nh ảnh đó làm tôi liên tưởng đến h́nh tượng biệt ly của Ḥn Vọng Phu, của Chinh Phụ Ngâm, đến cảnh chia tay trong Truyện Kiều,...  và những cảnh hợp tan đang xảy ra hàng giờ, hàng ngày trong thực tại.

Sự trông chờ tưởng chừng như đă vô vọng lại được thắp lên bởi ḍng tóc đen óng mượt xoă dài bên những cánh hoa dại gợi lên niềm hân hoan trong ḷng bao chàng trai. Mùi hương của hoa dại xen lẫn hương của nàng hoà trộn nhau, cứ lân la, chập chờn đánh thức nỗi đam mê từ tiền kiếp.

 

Không giữ được ḷng ḿnh, một chàng trai đă mạnh dạn đến bên nàng, rồi từ đêm đó một ngọn lửa t́nh bắt đầu nhen nhóm. Người goá phụ e dè, như thăm ḍ ḷng chân thật của chàng trai đang tỏ t́nh một cách vụng về, đường đột. Nàng đă có quá khứ buồn t́nh cảm nam nữ, nên trong ánh mắt xuất hiện sự mặc cảm, đôi khi c̣n hằn lên vết sầu hận về thân phận của chính ḿnh, nhưng không che lấp được nỗi khát khao… Quán nhỏ đă vắng khách mà hai người vẫn c̣n ngồi bên nhau, họ th́ thầm và mỗi lúc họ lại gần nhau hơn…

 

C̣n tôi như chiếc bóng của chàng trai đa t́nh, vẫn ngồi đơn độc, lắng nghe câu chuyện của một goá phụ và một người con trai mà như nghe chuyện của chính ḿnh.

 

Tôi cảm giác họ đă quen nhau từ kiếp nào, hơi thở của hai người nghe rơ dần lên và càng lúc càng dồn dập hơn rồi hoà thành một… Tôi nh́n hai người rời khỏi quán. Cùng nhau thả bộ trên con đường khuya vắng. Những cành cây phượng vỹ khẽ lay động dưới ánh đèn vàng, lung linh trong đêm huyền ảo như vẫy gọi nỗi khát khao của đôi t́nh nhân đang choàng vai nhau, đồng hành trong đêm, đi măi, đi măi, xa dần, xa dần… Chỉ c̣n sự yên ắng của đêm làm vọng lên trong trí tưởng tôi những tiếng bước chân khuya. Và chỉ c̣n bước chân tôi lặng lẽ thả lên kư ức về một cuộc t́nh chỉ vừa kịp chớm nở  đă vội vă úa tàn, như đoạn kết của duyên phận mà phần đầu và đoạn giữa đă trải qua từ bao kiếp nào. Họ có mặt hôm nay, như để làm nốt sứ mệnh c̣n lại của ṿng quay duyên nghiệp. Tôi một ḿnh đơn độc bước, mặc cho những ư nghĩ mông lung, như một giấc mơ bất giác chợt tỉnh, thấy ḿnh đang đi giữa màn mưa dày đặc, xoá nhoà cả không gian, đang rộ nở, những đoá hoa khi vừa nở ra cũng là lúc tan tác. Màu mưa, âm thanh mưa như khúc bi ca đưa bước chân tôi hoà nhập vào triệu đoá hoa mưa trắng xoá cả con đường.


NỖI BUỒN SÔNG

Sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam - Trung Quốc, nước sông Hồng đỏ ngầu, cuồn cuộn chảy mang theo rất nhiều phù sa, tạo nên nền văn minh sông nước và phát triển ở miền Bắc nước ta. Miền Bắc đă có những ḍng sông làm sáng ngời sử sách của dân tộc: Bạch Đằng giang nơi đă ghi dấu những chiến công lẫy lừng của những vị anh hùng kiệt xuất như: Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo.

 

Cửu Long giang có nguồn gốc từ sông Mê Kông. Theo giới thám hiểm, sông Mê Kông có thể bắt nguồn từ vùng núi cao Tây Tạng. Sông Cửu Long lăng du, cởi mở như đời sống người dân Nam Bộ. Tất cả những nhiểm ô, đă được gạn lọc suốt cuộc hành tŕnh gian lao để rồi trước khi hoà nhập vào đại dương bao la sông đă trầm ḿnh lại một cách thư thái để nhận ra h́nh hài của chính ḿnh và ngoảnh lại lần cuối nh́n về cội nguồn tận những vùng núi Tây Tạng xa xôi trùng điệp và kỳ bí.

 

Nhà tôi xây trên vùng đất bồi của miền hạ lưu sông Hương, phía trước là dải Cồn Hến án ngự. Thời thơ ấu tôi thường tắm sông, đứng trên chiếc cầu tre trước nhà nh́n ḍng sông xuôi theo miền hạ lưu chỉ thấy một vùng trời trắng xoá xa xăm, hồi đó tôi cứ ngỡ rằng nơi vùng trời xa xôi đó là cửa biển Thuận An. Sông Hương bắt nguồn từ dăy Trường Sơn hùng vĩ, vượt qua những núi rừng, trải qua bao gian nan,… để đem về thị thành những ḍng nước ngời xanh, tươi mát, chảy du dương ngân vang những tiết nhịp trữ t́nh, mang mang nỗi niềm sông núi. Đến mùa lũ lụt, nước sông Hương chảy mạnh, mang theo phù sa làm cho ḍng sông đổi màu trở thành người hùng da đỏ của núi rừng, hào phóng, lực lưỡng, cuồn cuộn cơ bắp như đại diện cho thần Núi về miền đồng bằng giúp dân làng đánh hạ thần Nước.

 

Ai đă từng lang thang trên sông Hương mới có thể cảm được thần thái của ḍng sông, và thưởng thức hương vị đặc biệt của ḍng Hương vào sáng sớm tinh mơ trong màn sương mềm mại như lụa là, khi bầu không khí chưa bị nhiễm ô bởi thế giới trần gian, lúc này lênh đênh trên sông mà như đang bềnh bồng trên tận cơi mây trời. Có thể nói thời gian này là thời khắc chào đời đầu ngày của ḍng sông trinh nguyên. Vào một buổi trưa hè oi bức, tôi lang thang dọc theo ḍng Hương để hưởng những cơn gió thoang thoảng mang theo hơi nước mát và bất chợt kinh ngạc nhận ra “Thanh kiếm dựng trời xanh” của cụ Cao Bá Quát, tôi ch́m ḿnh trong vệt sáng loang loáng thẳng tắp trên ḍng sông và xa tít như dài đến tận trời xanh. Phải chăng ngày xưa Cao Bá Quát đă dừng chân nơi này vào giờ ngọ thiêng, dưới bầu trời xanh đang đổ bóng xuống ḍng sông và đă phát hiện “Trường giang như kiếm lập thanh thiên” với sự phản chiếu của ánh mặt trời với mặt nước xanh biếc của ḍng sông, và sự nhạy cảm về màu sắc của ḍng Hương cùng với sự trực cảm của một tâm hồn thi nhân đang nung nấu bầu nhiệt huyết? Những buổi chiều trời trở gió, nước sông Hương cuồn cuộn từ phía hạ lưu lên, lúc này Hương giang như dậy sóng, gợi lên h́nh ảnh những thuỷ quân Tây Sơn trên đoàn chiến thuyền hùng hậu đang cỡi sóng tiến vào thành Phú Xuân. Khi chiều xuống ḍng Hương tĩnh lặng như vị thiền sư để soi lại một ngày lao động trôi qua êm ả và chuẩn bị cho cuộc công phu trước khi ch́m vào giấc sâu của màn đêm bí hiểm. Theo dơi màu sắc trên sông Hương mới thấy được sự thay đổi về sắc độ của sông đối với từng khoảng thời gian từ xanh trong, đến ửng hồng, rồi dát bạc, đến vàng cam, lam dụ pha lẫn xanh chàm,… và trước khi nhường lại cho màn đêm th́ sông chuyển sang màu tím thuỷ chung phủ nhẹ trên mặt sông thật lung linh, huyền ảo. Những chiều mưa giông, vô vàn hạt nước tạt vào sông, toé lên những đoá hoa mưa trắng xoá cả mặt sông, ḍng sông như một dải khăn nhung mượt mà được gắn kết vô số hoa huệ trắng, ngát hương tiễn đưa những phận đời phiêu bạt về nơi chốn xa xôi.

 

Những đêm trăng lênh đênh trên ḍng Hương, nghe những điệu ḥ xứ Huế buồn man mác, gợi lên cảm giác năo ḷng về kiếp nhân sinh, bỗng những câu thơ của cụ Nguyễn Du vọng về du dương theo nhịp sông “Hương giang nhất phiến nguyệt, kim cổ hứa đa sầu“ đă dẫn dắt tôi vào cơi “thanh sắc thi ca” của miền sông Hương núi Ngự. Cái thú thưởng thức ca Huế không phải lúc nào cũng nghe được, phải có sự kết hợp giữa không gian, thời gian, và điều chính yếu là tâm trạng của người nghe.

 

Vào mùa đông, những ngày mưa dầm dề trắng đất trắng trời, cùng dư âm của những trận chiến v́ người đẹp giữa Thuỷ Tinh và Sơn Tinh c̣n phảng phất trong màu nước đục buồn chưa lắng bùn non. Lúc này sông Hương như ḍng tóc thiếu phụ rủ dài trong nỗi nhớ lê thê theo những cơn mưa ngút ngàn, mùa đông ḍng Hương giang trở nên cô quạnh, lạnh lẽo bởi từng cơn gió bấc rét đậm quất vào sông làm bầm những vệt dài trên thân thể nàng và đôi môi lạnh cóng tím đen như đang chờ đợi chút hơi ấm của t́nh người.

 

Lạ thay, kể từ năm ngoái sông Hương trở nên lạ lùng, đang giữa mùa nước trong xanh bỗng nhiên sông chuyển sang màu nước bạc, ngầu đục một cách nhanh chóng khác thường và vô cớ. Tôi tự hỏi, phải chăng đời sông cũng như đời người?

 

Thời gian này tôi không c̣n ở ven bờ sông Hương đầy thơ mộng, nơi đă lưu lại những kỷ niệm của tuổi thơ hồn nhiên, đường vào nhà tôi bây giờ đi ngang qua ḍng Ngự Hà, con sông này được đào dưới thời triều Nguyễn chảy du dương cạnh Hoàng thành, mỗi lần ngang qua ḍng Ngự Hà nh́n những luống rau muốn phủ đầy sông mà ḷng buồn vô tận, đứng trông về phía Tây chập chùng dăy Trường Sơn xa xăm mịt mù ch́m trong màu chiều cô tịch gợi lên cảm giác nao nao cơi ḷng, rồi chợt nghĩ đến một ngày nào đó ḍng Ngự Hà biến thành những dải đất, núi rừng trở thành đồi trọc và tất cả những ḍng sông đều cạn kiệt, ngừng chảy bỗng nhiên tôi rùng ḿnh và toàn thân ớn lạnh. Ôi sông ơi! Có thể lúc đó loài người không c̣n nữa và sông sẽ buồn lắm, bởi lẽ không c̣n ai tôn vinh vẻ đẹp vĩ hùng của núi sông!

 

Nói đến sông mà chợt nhớ Câu chuyện ḍng sông của nhà văn Hermann Hesse, ôi đời sông gắn bó suốt đời cùng sự sống của nhân loại và có lẽ trong mỗi người chúng ta đều có một ḍng sông thầm lặng, ḍng sông của tâm tưởng đang âm ỉ, trôi bồng bềnh, lênh đênh vào chốn xa xăm bất tận, và măi trôi trong cuộc đời đầy sóng gió, giông tố, nắng mưa và hương thơm, nước mát,… để rồi bất giác một hôm nào đó trong chuỗi thời gian vô tận của kiếp sống lữ đày và huyền nhiệm, người hoà ḿnh vào ḍng chảy của sông để nhận ra bản thể của chính ḿnh chỉ là một giọt nước nhỏ nhoi của ḍng sông, như những câu thơ trong bài Giọt nước Hương giang của Phương Xích lô, một đời người đă tan vào thơ, hoà vào sông măi măi, măi măi...

 

...Dừng lại bên cầu nghe nước chảy

 Chợt thấy ḿnh:

một giọt nước Hương giang.

 

Phải chăng tất cả các ḍng sông đều đổ ra biển cả rồi nhập vào đại dương bao la, hăi hùng và bí ẩn để tham dự “Hội Trùng Dương”, một lễ hội của những ḍng sông trên hành tinh xanh này, mà nhạc sĩ Phạm Đ́nh Chương đă mời gọi “Tiếng sông Hồng”, “Tiếng sông Hương” và “Tiếng sông Cửu Long” hoà chung vào tiếng hát tự t́nh và đầy hào khí của dân tộc trong ngày hội cùng xuôi về biển Đông, những con sông xuôi về biển phải chăng chính là h́nh ảnh Âu Cơ từ miền núi cao thăm thẳm đă không quản ngại dặm trường gian nan, vượt qua bao thử thách, cam go,… đêm ngày  lặn lội về thăm Lạc Long Quân, đây là đức tính cao quư của dân tộc Việt Nam về sự chung thuỷ, về tấm ḷng hiếu thảo của những người con Việt Nam luôn hướng về quê cha, đất tổ theo con đường mà Âu Cơ đă chỉ lối.


NHỚ NGOẠI

Ngôi nhà tôi bên ḍng Hương thơ mộng, nước sông trong xanh như ngọc bích, hồn nhiên như mắt trẻ thơ, trầm buồn theo ánh mắt thiếu phụ và thản nhiên như vị thiền sư. Trước nhà tôi là những luỹ tre xanh đan nhau tạo thành một hàng rào kiên cố, chiều chiều bóng tre đổ xuống ḍng sông thật hiền hoà, lá tre đong đưa theo gió in bóng dưới nước trông như những đàn cá đang tung tăng bơi lội, tung tăng như tuổi thơ của lũ trẻ xóm bờ sông Hương. Vườn rau nhà tôi kéo dài tận mép sông, vườn ở vùng sông nước chỉ trồng được rau muống và những cây rau quả ngắn ngày, bởi hàng năm đều có những trận chiến của Thuỷ Tinh và Sơn Tinh tàn phá. Lũ lụt đối với xóm tôi đă trở nên quen thuộc quá rồi.

 

Nhớ thuở xưa mỗi lần đi học về, vội vă cởi áo quần và chạy một mạch từ trong nhà đến sông, rồi ùm một cái nước văng tung toé, người ch́m mất tăm một hồi rồi mới trồi lên mặt nước. Tuổi thơ cứ như vậy kéo dài cả chục năm, với đủ mọi tṛ, câu cá, thả diều, bơi lặn và đánh lộn nhau... Vậy mà không hiểu sao, một tháng có ba ngày, ngoại tôi nói là ba ngày mầu. Ba ngày đó tôi ngồi xếp bằng bên cạnh ngoại để nghe ngoại tụng kinh phật nhiệm mầu. Thuở đó ngoại đă thất thập cổ lai hy, tóc ngoại bạc phơ phơ nhưng trông ngoại c̣n khoẻ, giọng ngoại tụng kinh trầm bổng, ấm cúng dễ đi vào ḷng người vô cùng. Thời đó, tôi chưa hiểu ư nghĩa kinh, chỉ ngồi bên ngoại,  âm điệu lời kinh cứ thế  đi vào trong tâm tưởng tôi. Thật t́nh mà nói có nhiều khi cũng trốn ngoại chạy chơi với bè bạn, rồi canh đến giờ khi gần xong chạy vào để được ngoại cho cái bánh hay trái xoài. Nhà tôi rất đông anh chị em, thông thường ai ngồi nghe ngoại đọc kinh th́ sẽ có phần. Ngoại thương tôi lắm, khi nào cũng dành phần cho tôi cả lúc tôi đi vắng, lâu lâu lại giúi vào tay tôi vài đồng. Ngoài ba ngày mầu trong tháng, những ngày khác ngoại tôi thường công phu ngày hai bận, sáng sớm và tối khuya, cứ đều đặn như vậy, chỉ trừ những ngày ngoại đau ốm.Tôi lớn lên mang theo lời kinh được nghe từ ngoại, sáng tinh mơ nào cũng dậy sớm ngồi xếp bằng đọc thầm trong tâm. Rồi một sớm khi trời đang lờ mờ, cảnh vật ch́m trong yên ẳng, tôi đang ngồi đọc kinh bỗng nghe tiếng va đập mạnh từ bên ngoài sân, tôi chạy vội ra ngoài thấy ngoại nằm giữa sân, tôi la lên thất thanh, ngoại bị ngă, rồi bồng ngoại lên, tay tôi chạm phải chất nhầy nhầy âm ấm từ người ngoại, tôi hét máu máu, cả nhà tôi thức dậy, hốt hoảng, chộn  rộn, tôi đặt ngoại nằm trên cái phản và chạy nhanh đi gọi y tá ở cạnh xóm đến. Nhưng ngoại đă ch́m vào hôn mê, lúc đó nhà tôi nghèo túng và tuổi của ngoại đă hơn 80. Ngoại nằm hôn mê một tuần, rồi ngoại ra đi, đi măi vào thế giới xa xăm. Nước mắt tôi ứa ra mằn mặn, ngoại đă đi hơn cả chục năm mà tôi vẫn không cầm được nước mắt, lời kinh ngoại tụng măi theo tôi đến bây chừ. Bây giờ đă có vợ con, vợ chồng tôi đă có nhà riêng, thỉnh thoảng về thăm ba mẹ, tôi lặng lẽ vào bàn thờ thắp ba cây hương và cầu nguyện cho ngoại được khoẻ mạnh và yên b́nh nơi cơi xa xôi. Nước mắt lại ứa hai hàng mằn mặn vọng lên lời kinh ngoại tụng hôm nao mà ḷng buồn vô cùng. Tôi chỉ mong được nghe lại lời kinh của ngoại từ giọng mẹ tôi để những đứa con của anh tôi, chị tôi lại được mẹ tôi chia cái bánh, trái xoài...


HUYỀN THOẠI MƯA NGÂU

Hàng năm vào độ chớm thu, cơn mưa đầu mùa mang mang nỗi sầu lữ thứ, mưa rơi, rơi da diết chảy thành ḍng lệ của những cuộc t́nh trong huyền thoại xa xưa. Tháng bảy, mưa ngâu như cuộc lữ t́nh sầu muộn, măi trôi, trôi dạt về phương trời nao! Phải chăng là một phương trời của hoài niệm mà nơi đó hiện hữu những ẩn t́nh, những bóng h́nh của quá khứ. Quá khứ như một khung trời viễn mộng dấy lên niềm mê đắm của nỗi nhớ nhung để được gặp nhau trong cùng tiết nhịp của mưa rơi. Hằng năm vào ngày mồng bảy tháng bảy, những hạt mưa ngâu độ lượng nối hai tâm hồn lẻ loi, cô quạnh từ hai khung trời ly biệt mà khi đang bên nhau đă không trọn nghĩa ân t́nh, trời đất động t́nh nhỏ những ḍng nước mắt giữa trời mây tháng bảy ảm đạm, dành những phút giây thiêng liêng cho cuộc tao ngộ huyền sử trên nhịp cầu Ô thước nối liền những cơi t́nh ly miên viễn. Người sống, người chết ở mỗi thế giới khác nhau nhưng những lúc có chung mối giao cảm th́ sẽ đến với nhau bằng nhiều h́nh thức, có thể qua một giấc mơ, hay một phút giây thoáng hiện h́nh ảnh người thân xưa, chỉ một thoáng chốc mà đă kéo về lại cả thiên thu vạn đại. Đâu thời gian, đâu không gian! Chỉ một chớp mắt mà cả khung trời xưa cũ hiển hiện, đâu là thực, đâu là mơ!  Ta như lạc vào một trong ba ngàn thế giới ảo diệu, mà tác nhân chỉ là một thoáng mơ, một niệm khởi...

 

Cuộc t́nh nào chia ly mà chẳng buồn. Những chiều tháng bảy, chiều biệt ly, ly biệt mà không đoạn t́nh. Những bước chân cô độc ch́m trong cuộc lữ t́nh, với hành trang giản đơn là trái tim và nỗi nhớ, nhưng bước đi sao mà nặng như cả ngàn cân. Nỗi đau không vượt khỏi một miền trời cô đơn hư ảo, cô đơn như quả cầu đỏ khổng lồ đốt cháy tận tâm can, dấy nên nỗi khao khát, nỗi thèm muốn, nhớ mong, ... cô đơn như đoá hoa trăng huyễn hoặc, lẻ loi tàn tạ cuối trời để lại một thân xác cóng lạnh, lê bước giữa những ḍng lệ sướt mướt, mằn mặn nỗi đau và chút vị ngọt của kỷ niệm man mác buồn. Những hạt mưa ngâu như mang lại chút hoài vọng thổi vào con tim lạnh giá một chút hơi ấm hâm nóng lại hoài niệm xưa.

 

Những ai đă từng kinh qua cuộc ly t́nh sẽ cảm thông, đồng vọng trong nỗi niềm ai oán, trầm buồn cổ luỵ của tiết nhịp mưa rơi chiều tháng bảy. Phải chăng t́nh yêu chỉ c̣n trong hoài vọng! Văn minh Tây phương tràn ngập cả thế giới với niềm kiêu hănh hư vô, bên cạnh niềm kiêu hănh đó là một hố thẳm đang chờ đón nhân loại, những bước chân đang giẫm đạp lên trên những cặp ư niệm: thiện - ác, sáng - tối, nhân - quả, duyên - phận,... Những cặp ư niệm đó đă phân cực thế giới và thống trị nỗi đau của nhân loại từ vô thuỷ đến bây giờ  và kéo dài măi măi cho đến lúc con người rơi vào sự tận diệt điêu linh. Văn hoá phương Tây chọn ngày 14 tháng 2 là ngày lễ hội t́nh yêu, c̣n Đông phương chẳng lẽ không có một ngày hội của t́nh yêu! Có thể t́nh yêu của phương Đông như một ḍng thác chảy liên tục và bất diệt, v́ vậy nên mỗi thời khắc đều là sự hiện hữu của t́nh yêu, mà mỗi người đang trong hoàn cảnh đó luôn tưởng nhớ về nhau. Nếu có một ngày lễ hội t́nh yêu của phương Đông, có thể chọn ngày mồng 7 tháng 7 Âm lịch. Phải chăng là do sự khác biệt về văn hoá, khác nhau trong quan niệm về nhân sinh quan và vũ trụ quan của hai nền văn minh Đông - Tây.

 

Một chiều mưa tháng bảy, những bước chân hoà cùng nhịp mưa rơi mà tâm hồn phiêu diêu tan vỡ theo từng hạt mưa để gặp người yêu từ thuở phiêu bồng. Đôi uyên ương choàng vai song hành trên cầu vồng bảy sắc thơ mộng nối liền hai bờ sông Ngân, những bước chân vồn vă về phía nhau trong niềm hạnh phùng trào dâng từ sự rộng lượng, bao dung của đất trời. Nàng và Chàng đă hoà nhập vào nhau làm thành một, và nhỏ những ḍng lệ đắng cay, ngọt ngào ru hời cuộc t́nh trái ngang trong hạnh phúc và khổ đau. Không lẽ những đôi t́nh nhân khi đoạn t́nh lại không nhớ đến truyền thuyết mưa ngâu tháng bảy, bởi mỗi người trong chúng ta có rất nhiều ẩn t́nh mà ai ai cũng chưa hiểu hết tất ḷng của chính ḿnh. Dù cho chuyện t́nh của Ngưu Lang và Chức Nữ  là một truyền thuyết, cho dù câu chuyện t́nh đầy bi kịch và cảm động tận tâm can của mọi người và động t́nh đến tận cơi trời chỉ là một huyền sử, nhưng huyền sử đó đă trở thành một chuẩn mực đạo đức nói lên niềm khao khát về cái đẹp, về sự cao quư của t́nh yêu, một t́nh yêu không phân biệt thân phận của mỗi người, và t́nh yêu đích thực là cuộc t́nh thuỷ chung mà thời gian không thể làm phai mờ và không gian không thể nào ngăn cách.


NGÓ VỀ QUÊ MẸ…

“Chiều chiều ra đứng ngơ sau

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều”

   (Ca dao)

 

Tôi không có ư phân tích hai câu ca dao trên, bởi cái âm hưởng thắm đượm t́nh cảm của nó đă vượt qua cơi duy lư và nhập vào tâm khảm mỗi con người. Tôi chỉ xin được nêu lên một vài câu hỏi: Ai đứng ngơ sau? Tại sao lại đứng ngơ sau mà không đứng ngơ trước? Sao lại chiều chiều mà không tối tối? Tại sao lại ngó về quê mẹ mà không phải quê cha? Và v́ sao lại chín chiều? Câu trả lời chính là sự cảm nhận của mỗi người.  

 

Xưa nay người ta thường nói đến quê quán của một ai đó bởi cụm từ “quê cha đất tổ” mà hầu như quên hẳn quê mẹ, và t́nh cảm của mẹ đă được gửi gắm qua ḍng xúc cảm bất tận của điệu ḥ ru con, hay trong nhiều bài thơ, những bản nhạc, các tác phẩm nghệ thuật, và lạ lùng thay người ta lại thường nói đến cụm từ “tiếng mẹ đẻ” mà chưa bao giờ nói đến “tiếng cha đẻ”. Trong thực tế quê mẹ như bị nhạt nhoà bởi thời gian, bởi thân phận người phụ nữ. Có điều qua nỗi xót xa đó, người con gái c̣n có thiên chức rất cao cả: “Làm mẹ“. Phải chăng từ khi những cuộc chiến tranh xuất hiện, vai tṛ của người đàn ông dần được khẳng định, đặt nền móng chuẩn bị cho chế độ phụ hệ ra đời và từ đó chế độ mẫu hệ dần suy tàn? H́nh ảnh người phụ nữ không c̣n được tôn sùng trong tâm tưởng của mọi người như ở thời đại mẫu hệ. Dần dà sự phân biệt trọng nam khinh nữ đă h́nh thành trong xă hội và có lẽ sự phân biệt đó đạt đỉnh cao ở thời phong kiến, để rồi nó dai dẳng đến bây giờ qua sự tái hiện của ngôn ngữ bởi hai từ: nội - ngoại. Và điều đó đă được thể hiện qua cách đặt tên con lấy họ cha, hay trong những lễ chạp mồ chạp mả, trong những vị trí của xă hội,… và tồi tệ nhất từ xưa đến nay hầu hết phái nam xem phái nữ như “vật dụng” nhằm phục vụ cho sự thoả măn của giác quan hơn là ư thức về sự bảo tồn giống ṇi. Sự thoả măn đó đă được ngầm định bởi dục năng, một loại trạng thái luôn tiềm ẩn dưới mỗi tế bào, mỗi phân tử, mỗi nơ ron thần kinh đang đợi chờ một niệm lực, hay tự lực của mỗi mầm sống sẽ hội tụ lại để tạo thành một ḍng ư lực chi phối và điều động các giác quan để biểu hiện dục tính con người. Những dục năng tiềm ẩn đó phần nào xoá nhoà h́nh bóng thiêng liêng của người mẹ, làm mờ nhạt thiên tính cao cả và tuyệt vời của mẹ, và phải chăng bởi v́ mẹ biểu tượng của cái âm tĩnh lặng như hư không ôm ấp tất cả mọi vật, đă khiến cho phái nam biểu tượng cái dương, cái động luôn vần vũ, quay cuồng, hiềm kỵ… kiếm t́m trong cơn mê hoang? Câu chuyện ngụ ngôn về Adam và Eva ở vườn địa đàng đă cho thấy sự trọng nam khinh nữ khi người ta chỉ xem Eva có nguồn gốc từ một cái xương sườn của Adam và tội lỗi ở vườn địa đàng do người nữ gây ra. Sự phân biệt nam nữ c̣n được biểu hiện qua sự trừng phạt của Hồi giáo khi ném đá đến chết những người phụ nữ phạm tội ngoại t́nh.

 

Người con gái từ khi xa gia tộc đi làm dâu là đă thực hiện một cuộc viễn ly rời xa tổ ấm gia đ́nh, rời xa ṿng tay ấm áp của mẹ, xa vắng những câu hỏi ân cần của cha, xa anh chị em ruột thịt, xa xứ sở thân quen, xa làng trên xóm dưới, xa khung trời hồn nhiên của tuổi thơ mà đă hàng chục năm gắn bó.

 

Ôi! Sự ly biệt. Cách mà không xa. Không phải là cái khoảng cách vật lư, cái khoảng trống của không gian mà chính là sự xa cách tâm lư. Những t́nh cảm, những kỷ niệm đă được h́nh thành hàng chục năm, và rồi bỗng nhiên một ngày mà hầu như mọi người đều vui, một ngày mà các quyển sách bói toán đều cho là tốt là cát lợi,… một sự xa cách tiền định giáng xuống mà thân phận người con gái trước sau ǵ phải lănh nhận. Cam chịu v́ định kiến cay nghiệt của xă hội, cam chịu v́ hủ tục xưa bày nay làm, v́ lễ nghi phong tục… nhưng cao cả nhất là sự hy sinh v́ t́nh yêu, v́ thiên chức mà tạo hoá đă giao phó.

 

Nhưng tạo hoá rất công bằng, đă ban cho người nữ thiên chức, ắt phải lấy đi rất nhiều thứ, để rồi: “Chiều chiều ra đứng ngơ sau/ Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.” Người con gái khi về nhà chồng làm dâu, rồi làm mẹ và từ lúc được làm mẹ cũng là lúc cảm được thân phận người mẹ. H́nh ảnh một người chiều chiều đứng ngơ sau rồi ngó về quê mẹ và cũng chính là quê ḿnh, cứ thế h́nh ảnh đó tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác tạo nên những miền quê mẹ chập chùng nối nhau và mờ dần phía chiều rơi để rồi cơi ḷng quặn thắt một nỗi đau, nỗi đau khi nghĩ đến mẹ già, nỗi niềm của chính ḿnh và nỗi đau từ ngh́n trùng níu nhau hiện về của bóng h́nh những người mẹ từ trong quá khứ xa xăm,… hay giữa hiện tại trơ trụi và rồi sẽ đến niềm đau của những đứa con gái thơ dại đă và sẽ ra đời trong tương lai. Nỗi ḷng của mẹ rất lớn và chỉ có những người mẹ mới cảm thông nhau, và chiều chiều phải đành ra đứng ngơ sau, cái ngơ che dấu nỗi niềm cô quạnh, u uẩn của phận con dâu hay ngơ hướng vào nội tâm để được ngó về quê mẹ một cách âm thầm trong nỗi rối bời ruột gan. Nhưng rồi tạo hoá lại động ḷng trắc ẩn khi thấy người mẹ đau đớn, tan dần giữa đại dương mênh mông, nên đă ban cho phái nữ một t́nh thương mẫu tử, t́nh thương cao cả và tuyệt đối giữa thế gian này. Chỉ có người mẹ mới có cái quyền thiêng liêng của tạo hoá, quyền cho mỗi chúng ta “mang nặng kiếp người”, một kiếp người vượt trên mọi dự tưởng. Đúng vậy, kiếp người rất nặng và buồn lắm, buồn như câu ca dao mà người mẹ đă gửi gắm những t́nh cảm bao la, sâu kín, dập d́u trên vành nôi. “Chiều chiều” là khoảng thời gian u hoài, gợi cảm. Những khoảng khắc ánh mặt trời dần khuất sau rặng núi, để lại một màu chiều ảm đạm, thu lại thế giới quan mỗi người, khiến mẹ ch́m trong thăm thẳm cơi hồn cô liêu. Và “chín chiều” phải chăng là những chiều kích của không gian? Hay là chiều của nội tâm, là nỗi niềm của ḷng mẹ, mẹ không c̣n nơi trú ngụ mối sầu lữ thứ, nơi để gửi gắm nỗi đau thắt ruột khi nhớ về quê ngoại. Quan niệm từ xa xưa số chín biểu tượng sự cao cả nhất và nỗi đau khi nghĩ đến mẹ là nỗi khổ đau lớn nhất của đời người. Hay có thể số chín là tượng trưng cho chín vía của phái nữ. Hoặc một ư nghĩa khác “ruột đau chín chiều” là nỗi đau chín muồi, nỗi quặn thắt trong thăm thẳm phận người con gái.

 

“Đau quá mẹ ơi!” là tiếng kêu vang của con trẻ khi bị ăn đ̣n hay “Mẹ ơi!”, tiếng gọi thiêng liêng bộc phát ra từ tâm tưởng của những người bị trọng thương nơi núi rừng heo hút đă níu về những h́nh ảnh âu yếm của mẹ hiền, h́nh ảnh mẹ ôm ấp con trong ṿng tay ấm áp đă xoa dịu nỗi đau, xoá nhoà cơn hăi hùng khi đối diện với nỗi cô độc của kiếp người rồi con sẽ ngất lịm trong cơn mê man mà ngỡ như có bàn tay âm ấm của mẹ đang vỗ về. Ôi! T́nh thương của mẹ là loại biệt dược rất quư cho mỗi người con.Phái nữ được xem là phái yếu, nhưng trong suốt chiều dài lịch sử từ những huyền sử như: mẹ Nữ Oa vá trời, tổ mẫu Âu Cơ linh diệu, sự thuỷ chung qua h́nh ảnh ḥn Vọng phu,… và Trưng Nữ Vương vị anh hùng đầu tiên đấu tranh giành độc lập cho nước Việt, và sự hy sinh cao cả c̣n được thể hiện qua: công chúa Huyền Trần, công chúa Ngọc Hân, nữ tướng Bùi Thị Xuân, Hoàng thái hậu Từ Dũ,… và h́nh bóng cao cả của mẹ đă tái hiện ở Việt Nam dưới những dạng thức khác nhau như mẹ Quán Thế Âm, dù Quán Thế Âm là vị nam bồ tát ở Ấn Độ có tên Avalokitesvara, hay đức mẹ Maria trinh nguyên, rồi thánh mẫu Yana của người Champa đến bây giờ vẫn được thờ cúng ở điện Ḥn Chén của xứ Huế rất thiêng. Trong những thế kỷ gần đây đă xuất hiện rất nhiều bà mẹ quê anh hùng và rất nhiều người mẹ vô danh khác đang âm thầm cam chịu những mất mác quá lớn lao qua những cuộc chiến trên đất Việt. H́nh ảnh người mẹ cao cả xuất hiện từ những linh thoại xa xưa và đă khắc ghi vào sử sách của nước Việt tạo nên “huyền thoại mẹ”. Những người mẹ làm nên huyền sử lẫy lừng, nhưng mẹ vẫn sống trong nỗi niềm thầm lặng, sâu kín, bởi t́nh thương bao la của mẹ không có ngôn từ nào diễn tả trọn vẹn và nỗi niềm của mẹ măi măi c̣n ngân vọng trong âm hưởng bất tận của lời ca dao trầm buồn trên đất Việt.

 


MÙA AN CƯ XỨ HUẾ

Hàng năm, sau đại lễ Phật Đản rằm tháng tư các chư tăng Phật giáo Bắc tông sẽ nhập hạ. Theo truyền thống của Phật giáo nguyên thuỷ, cứ đến ngày 16/6 Âm lịch hàng năm các tăng sĩ Nam tông tham dự mùa an cư cho đến 15/9 Âm lịch, gọi là tiền an cư. Trường hợp những chư tăng không tham gia được tiền an cư th́ sẽ tham gia mùa hậu an cư bắt đầu từ 16/7 đến 15/10 Âm lịch. Nguyên thuỷ Phật giáo các chư tăng đi khất thực để sinh sống, mỗi ngày đêm chỉ ăn một lần trước giờ Ngọ. Đồ mặc, kể cả ngự hàn, không quá 3 y. Không cất lại hay dành dụm đồ ăn, đồ mặc, đồ nằm. Chỗ lưu trú không quá 3 ngày. Mỗi năm chỉ không đi khất thực 3 tháng vào mùa an cư. Thời Đức Phật c̣n tại thế, khoảng thời gian an cư là mùa mưa. Lúc này, việc đi lại bằng đường bộ là rất khó khăn cho mọi người, và hầu như mọi người dân vào mùa mưa có đời sống vật chất khó khăn, vất vả. Ngoài ra, mùa mưa là mùa côn trùng sinh sôi, nảy nở, nên việc đi lại của các vị sư sẽ ảnh hưởng đến đời sống của các sinh vật và điều này sẽ gây tác động không tốt đến tâm sinh lư của người đang tu tập. Một lư do khác sâu xa hơn khiến tôi phân vân là, có lẽ mùa mưa là khoảng thời gian trời gửi t́nh yêu cho đất và mùa loài người gửi gắm t́nh yêu cho nhau, nên chỉ cần một móng tâm rất vi tế sẽ tạo nên làn sóng vọng tưởng lan rộng khắp và gây ảnh hưởng đến thành tŕ của giới luật. Ngoài những lư do trên để những chư tăng an cư, th́ mùa an cư c̣n là mùa để mỗi tăng sĩ phải nỗ lực, chuyên tâm tu tập nh́n lại quá tŕnh tu học của mỗi người, nhập vào bản thể đích thực của mỗi chúng sinh với mục đích cao cả là giác ngộ, giải thoát.

 

Ở Huế, ngoài những ngôi chùa Nam tông như chùa Thiền Lâm, Tăng Quang tự, chùa Huyền Không, Huyền Không Sơn Thượng,… c̣n lại hầu hết là những ngôi chùa Bắc tông.

 

Huyền Không Sơn Thượng trước đây là vùng đồi núi mênh mang, hoang vắng thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sư Giới Đức là người đă tiên phong khai khẩn, trồng rừng ở vùng đồi núi hiu quạnh này. Đến bây giờ vùng đồi núi hoang vu đó đă trở thành những rừng cây bạt ngàn, trên mỗi ngọn đồi có một cốc nhỏ vừa đủ cho một tăng sĩ ẩn cư tu tập. Trước đây đường lên Huyền Không Sơn Thượng là những con dốc gập ghềnh, lởm chởm đá và lầy lội đất đỏ vào mùa mưa. Bây giờ con đường đă được bê tông hoá phần nào. Nằm cùng tuyến du lịch nhà vườn Kim Long, chùa Thiên Mụ, Văn Thánh, Vơ Thánh và với sự nỗ lực hết ḿnh của quư chư tăng đă đưa Huyền Không Sơn Thượng trở thành một điểm thưởng ngoạn tao nhă, c̣n rặt thiên nhiên với những ao hồ thoáng mát; những đỉnh núi như Triều sơn phương; những thảo am như: Mây tía, Phong trúc; những vườn lan sặc sở các sắc màu,…nhằm giới thiệu với du khách một vùng không gian khoáng đăng của xứ Huế. Trong nhịp Festival 2004 Huyền Không Sơn Thượng đă được Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế chọn làm điểm toạ đàm thơ cho du khách cả nước, và cùng những triển lăm nghệ thuật đặc sắc khác. Rời Huyền Không Sơn Thượng mà ḷng tiếc nuối bởi thời gian quá eo hẹp mà các chư tăng th́ lại đang rất bận rộn trong việc kinh sách. Tôi chào tạm biệt sư Giới Đức mà như cảm nhận được những hoài băo lớn trong đôi mắt chan chứa t́nh người của sư. Tôi hy vọng ngày nào đó Huyền Không Sơn Thượng sẽ trở thành một điểm dừng chân cho du khách để thưởng ngoạn những tác phẩm nghệ thuật trên đá, trên cây, trên giấy,… bởi những nét bút chân t́nh của các nghệ sĩ, và Huyền Không Sơn Thượng c̣n là vùng không gian cho mỗi chúng ta có thể chiêm nghiệm chính ḿnh trong cơi đời ngắn ngủi. Đến mùa an cư th́ các chư tăng ở Huyền Không Sơn Thượng lại chuyên tâm tu tập nhằm mục đích cao cả là chứng ngộ giáo lư của Đức Phật.                      Điều đặc biệt của mùa an cư xứ Huế là ngoài những chư tăng, ni c̣n có sự tham dự của các cư sĩ, những Phật tử. Tuy các cư sĩ không bị bắt buộc và khắt khe như các chư tăng là phải an cư ba tháng và trong ba tháng đó phải chuyên tâm tu tập, tinh tấn và không được rời khỏi nơi cư trú, chỉ khi nào có những chuyện đại sự th́ những chư tăng phải xin nguyện rời nơi cư trú để lo chuyện đại sự nhưng không được quá bảy ngày. Việc những Phật tử, cư sĩ tại gia vẫn vào hạ, chay tịnh theo đúng thời gian của mùa an cư là hoàn toàn tự giác. Điều này cho thấy đời sống tâm linh mà đặc biệt là văn hoá Phật giáo đă ăn sâu vào huyết mạch của người dân xứ Huế. Trong ḍng sống đang chảy với tốc độ tăng rất nhanh, con người như bị cuốn theo nhịp sống của xă hội, nhưng trong mỗi chúng ta đă từng có những phút giây lắng ḷng cho dù rất hiếm hoi. Hy vọng rằng mùa an cư với những ư nghĩa cao đẹp trên sẽ góp phần nhắc nhở mỗi người hăy chọn cho chính ḿnh một khoảng thời gian thích hợp để an cư, sửa ḿnh và nh́n lại cơi ḷng thăm thẳm đang trôi lăn giữa ḍng sống bất tận.


MÀU THUỶ CHUNG

Màu sắc góp phần gợi lên nỗi ḷng con người. Cái màu tím kỳ lạ của xứ Huế đă khiến tôi nhớ đến câu chuyện t́nh bi thương “Forget me not” và h́nh ảnh nhành hoa Violet đang dập dềnh theo sóng nước. Việt Nam có một loài hoa tím thường vươn lên nơi miền núi đồi khô cằn, được nhà thơ Hữu Loan nói đến trong bài Màu tím hoa sim qua những câu: “Những đồi hoa sim dài/ trong chiều/ không hết/ màu tím hoa sim/ tím/ chiều hoang/ biền biệt”, đây là nỗi ḷng của thi sĩ trong cuộc t́nh lăng mạn, bi thiết và rất thắm đượm màu thuỷ chung, những câu thơ đă mở ra một không gian tím bát ngát, chập chùng tận phía chân trời mộng tưởng.

 

Buổi sáng, tôi vừa mở cửa đă thấy những cánh hoa tím trước nhà, đó là những cánh hoa nhài tím dặt d́u và chuyển dần sang trắng khi chuẩn bị úa tàn. Bên nhà hàng xóm có những chùm hoa tim tím đang gửi ḿnh dọc theo bờ rào. Loanh quanh những miệt vườn thấp thoáng những nhánh hoa địa lan tím một cách mặn mà. Gam màu tím ấy chạm vào cơi ḷng và khiến tôi đứng ngồi không yên.

 

Một hôm trời chớm nắng, nắng trong suốt hồn nhiên như ánh mắt trẻ nhỏ. Nắng mơn trớn trên cỏ lá, thành quách làm tươi lại những mảng màu xưa cổ dẫn dắt bước chân lạc tôi vào Tử cấm thành; ngày xưa Tử cấm thành là nơi ở của gia đ́nh vua. Trong bầu không gian hoài niệm tản mác những sắc tím lạ lùng gợi lên cảm giác sâu lắng, sắt son... Tôi lang thang đến đoạn thành phía sau Đại nội, dừng lại ở cửa Hoà B́nh, lên lầu Tứ Phương Vô Sự - một di tích đă đổ nát, hoang phế bởi thời gian và con người. Quanh quất đoạn thành đổ nát những ṿi hoa vươn cao trong nắng và khẽ lay nhè nhẹ theo những ngọn gió ban mai. Ánh nắng sớm lọt qua những khe hở của thành quách như nhảy múa trên hoa lá đă tăng thêm độ rực rỡ của những nhánh hoa bâng khuâng tím mơ hồ giữa đất trời huyễn mộng. Đầu mùa hạ, một vài con đường xứ Huế như nở hoa, những cánh hoa bằng lăng đậu trên mặt đất tự lúc nào đă làm dịu đi cái nắng hè xứ Huế. Những cánh hoa trải thành h́nh tṛn dưới mỗi gốc cây bằng lăng sum sê lá cành. Tôi sững sờ nh́n lên những cây bằng lăng đă vượt quá tầm mắt, những vùng không gian tím lạ kỳ đang hiển hiện dưới ṿm trời trong xanh. Những cánh hoa tím đang rơi trước những ánh mắt hờ hững trú ngụ dưới những ṿm xanh. Cái đẹp đôi khi rất giản đơn, tinh tế và lại rất lạ xa với suy nghĩ của mỗi con người. Cái đẹp chỉ để dành cho những tâm hồn đồng cảm và luôn luôn hướng đến phía chân trời thiện mỹ.

 

Dạo này, trên phố Huế như thiếu vắng những dáng vẻ uyển chuyển, thướt tha của những vạt áo dài màu tím phơn phớt khẽ lay theo gió, ẩn dưới những vành nón bài thơ duyên dáng che hờ một ḍng tóc bềnh bồng, xa xăm. Màu tím xứ Huế đă đi vào trong thi ca như một ảo ảnh được tạo h́nh từ trời đất, sông núi, cỏ cây, hoa lá, thành quách, miếu đền… và con người.

 

Vừa đi trên những con đường trải thảm hoa êm ái vừa tưởng tượng đến một ngày nào đó, trên mọi nẻo đường xứ Huế, mỗi con đường sẽ rộ lên những sắc màu của hoa lá đang miệt mài tŕnh diễn suốt cả bốn mùa. Ḍng suy tưởng miên man đă đưa bước chân tôi đến ngọn đồi Vọng Cảnh thơ mộng, ngồi bên triền đồi nh́n hoàng hôn buông nhẹ xuống trên  nhánh sông bao quanh là những dáng núi tạo nên cảnh sơn thuỷ hữu t́nh, khúc sông được xem là đẹp nhất của ḍng Hương, xa xa những con thuyền nhỏ chở những phận người khuất dần phía chiều rơi. Ánh trời chiều như được phát ra từ ḍng sông và hắt lên dọc theo những triền núi đồi rồi quyện vào những nhánh hoa bâng khuâng đang vươn cao về phía trời chiều, màu hoàng hôn xứ Huế thật diệu kỳ, ẩn sâu trong bản hoà sắc tài t́nh đến huyền hoặc của thiên nhiên là một không gian hun hút của màu tím thuỷ chung đang toả vào những ngơ ngách, những góc khuất xứ Huế. 

 

Những chiều hè, trước khi đất trời chuyển màu chạng vạng, các ao hồ quanh Kinh thành Huế nhấp nhô những đoá sen trắng, sen hồng e ấp, thẹn thùng như những đôi bàn tay ngọc ngà của các thiếu nữ đang hứng những giọt chiều từ phía trời tây. Lúc này, những đoá sen trắng, sen hồng hoà với ráng chiều u uẩn, từ các mặt hồ những sắc màu nườm nượp dâng lên rồi quyện vào màn nước mong manh trôi nhẹ từ các ao hồ và chuyển dần sang màu tím hoang dă. Trong bầu không gian mờ ảo xứ Huế điểm xuyết những hạt cườm tim tím lân la bồng bềnh…

 

Một ngày hè lênh đênh trên ḍng Hương giang cho đến lúc chiều xuống, những hồn người trên thuyền như tan vào khúc biến tấu huyền ảo của những sắc màu. Ven hai bên bờ của miền hạ lưu sông Hương phả vào không gian những biến điệu lam, chàm, vàng, cam, xanh… và dặt d́u trong sâu thẳm, xa xăm là những ṿng xoáy h́nh trôn ốc của sắc tím mơ màng như cuộn lấy hồn người, cuốn hút con thuyền lên cơi miền ảo mộng…

 

Một chiều mùa đông, khi tiếng khóc chào đời của con thơ vang lên trong niềm hân hoan mới lạ xen lẫn những lo âu, rồi bỗng nhiên tiếng khóc vắng bặt sau khi vào pḥng cách ly. Những bước chân chạy dọc theo hành lang, đi đi lại lại trong nỗi bồn chồn, lo lắng… Khi cánh cửa pḥng mổ mở tung, những gương mặt b́nh tĩnh đến thản nhiên đang đẩy chiếc xe đến pḥng hồi sức, người mẹ đang nằm mê man đă kéo theo bước chân tôi. Trên khuôn mặt tái trắng và toàn thân được phủ tấm vải trắng tinh đă bật lên đôi môi tím nhạt nhoà, khô héo như một đoá hoàng hậu úa tàn. Bên ngoài hành lang những chiếc lá lung lay rồi đáp nhẹ xuống mặt đất. Hôm đó, tôi thức trắng cùng đêm, ánh mắt cứ chập chờn dơi theo ô cửa pḥng hồi sức, rồi chốc chốc chạy đến pḥng cách ly... Đêm nay, trời buông những cơn gió lành lạnh đầu mùa đông, gió ùa đến thật bàng bạc, khẽ khàng lay những chiếc lá rơi rụng, lách cách những âm vang rộn ràng. Khi trời tờ mờ sáng, tôi bước loạng choạng về phía hừng đông, mở hai cánh cửa pḥng và bước ra khỏi hành lang bệnh viện, tôi khựng người lại trước vùng không gian tím ngạt ngào và nghi ngút những đám khói hương. Một tấm thảm nhung màu tím đang trải ra trước mắt tôi, những cánh hoa tím ngát đang hoà vào màu đất trời chập choạng sáng tối cùng khói sương. Tôi khẽ bước nhè nhẹ tránh giẫm lên những cánh hoa đang phủ kín cả vùng đất, những bước chân như bay bổng vào cơi miền thênh thang, vừa cất bước tôi vừa ngoái đầu lại nh́n một cách tiếc nuối phía những xác hoa đang hồi sinh từ đất sau khi xong phận hoa ngắn ngủi trên những cành cây hoàng hậu.

Màu tím Huế đă trở thành thương hiệu đặc trưng của Cố đô. Màu tím Huế có được là do sự hoà trộn giữa màu của cây cỏ, núi sông với gam đỏ của ráng chiều và màu sương khói, mây trời và một số yếu tố khác,… và màu tím Huế (Violet Hue) đă xuất hiện trong bảng màu hội hoạ bằng chất liệu sơn dầu, như một món quà của thiên nhiên ban cho con người, món quà níu giữa gam màu nóng và lạnh, cân bằng giữa âm và dương. Xứ Huế là nơi hội tụ những luồng văn hoá lớn; văn hoá Trung - Ấn và tàng ẩn trong huyết mạch của vùng đất Thần kinh là sự hồn nhiên, thuần phát, thông minh, chịu thương chịu khó, hoà quyện vào thiên nhiên của người dân làng quê Việt Nam. Ôi! Màu tím Huế như một hư ảnh, có đó không đó. Không phải ai ai cũng cảm nhận được sắc tím của đất trời xứ Huế mênh mang. Nếu thiếu đi một trong những yếu tố tạo nên màu tím Huế th́ sắc màu diệu kỳ đó sẽ không hiển hiện. Sắc tím Huế không những đă tồn tại và lan toả khắp mọi nơi trong không gian mà c̣n hoà vào tâm hồn người dân xứ Huế, một sắc màu sâu kín, d́u dặt và bạt ngàn thuỷ chung.

 

 


SÔNG HOA

Hoa biểu tượng cho cái đẹp tiên thiên, cái đẹp thuần khiết giúp hồn người thăng hoa. Hoa xứ Huế thường nhỏ hơn các loài hoa nơi những miền có khí hậu ôn đới. Nhưng hoa xứ Huế có hương thơm đặc trưng, bởi vùng đất Thần kinh hội tụ đủ các yếu tố núi sông, nắng mưa,… và đặc biệt là con người ở xứ sở này rất yêu cỏ cây hoa lá, cảnh đẹp thiên nhiên và người Huế hầu như không dùng hoá chất để kích thích hoa. Truyền thuyết cho rằng ḍng sông Hương trong xanh của xứ Huế có cái tên kỳ mộng, gợi cảm như vậy là do chúa Nguyễn thực hiện theo giấc mộng của bà tiên, chúa Nguyễn Phúc Thái (c̣n có tên chúa Ngăi (Nghĩa) hay Nguyễn Phúc Trăn) thắp hương đi từ đồi Hà Khê dọc theo bờ sông về phía hạ lưu cho đến khi hương tàn th́ đóng thủ phủ ở đó. Bây giờ đồi Hà Khê đă trở thành một thắng cảnh danh tiếng với ngôi chùa Thiên Mụ cổ kính có tháp Phước Duyên uy nghi giữa đất trời. Từ đó ḍng sông xanh mượt mà đó mới có tên là Hương giang để nhớ ơn bà tiên báo mộng. Tương truyền từ xa xưa sông Hương c̣n có tên Lô Dung - tên của một huyện thuộc quận Nhật Nam, sau đó mang tên sông Kim Trà do chảy qua quận Kim Trà, rồi địa danh Kim Trà được đổi thành Hương Trà th́ tên sông được đổi theo là sông Hương Trà và sau đó được gọi rút gọn là sông Hương, có ư kiến cho rằng xưa kia sông Hương c̣n có tên là Linh giang, sông Dinh, sông Phú Xuân,...

 

Các cụ ngày xưa nói nước sông Hương pha trà th́ rất thơm, ngon nên được gọi là sông Thơm, rồi một vài ư kiến lại nói nước trên ḍng sông này toả ra một mùi hương d́u dặt của loài cỏ Thạch Xương Bồ mọc dọc ven bờ sông, kẽ đá phía thượng nguồn. C̣n nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường th́ lại rất thích huyền thoại: những người dân sống dọc hai bên bờ sông v́ quá yêu thương và gắn bó với sông nên thường nấu nước của rất nhiều loài hoa đổ xuống sông nên làn nước có mùi hương thơm tho măi măi…

 

Tất cả những ư kiến trên đều nhằm lư giải cái tên quyến rũ và hoa mộng của ḍng sông. Thật ra, dù cái tên có hay, có đẹp đến mấy đi nữa nhưng trong thực tế không đúng như vậy th́ không ai mất thời gian và tâm trí để ngợi ca bao giờ. Thật đáng tiếc nếu ai đó chưa đến sông Hương để cảm nhận những điều mà văn học, thi ca miêu tả về con sông nhạy cảm này và sẽ c̣n nhiều điều thú vị hơn nữa.

 

Nếu có dịp quư vị nên thử nếm nước sông Hương để cảm nhận vị thanh thoát và phảng phất mùi thơm d́u dặt thật khó mà diễn tả của nắng, gió, cỏ hoa đất trời Cố đô. Cách đây khoảng hơn 10 năm, thời đó nước máy rất hiếm, cả xóm mới có vài nhà sử dụng, muốn dùng nước máy th́ phải đi mua từ các nhà đó. Thuở đó, cứ vào độ cuối mùa hạ hàng năm, khi mùa nước mặn dâng lên, nước sông Hương có vị lợ lợ. May mà có những chiếc đ̣ của người dân sông nước chở nước ngọt bán dọc sông, mọi người đổ xô nhau đi mua nước ngọt. Nhưng mỗi người chỉ mua được một đôi (hai thùng thường dùng để gánh nước) phải để dành cho người khác. Hỏi ra mới biết những người dân vạn đ̣ đă lấy nước trên tận Vạn Niên, Vọng Cảnh, Tuần… những nơi nước chưa bị nhiễm mặn. Đúng là nước ngọt, ngọt một cách lạ kỳ, không phải cái ngọt của đường, cũng không phải vị ngọt của trái cây mà vị ngọt uyên nguyên của đất trời. Hay những lúc ngửa mặt xuôi ḿnh giữa ḍng sông ngắm bầu trời xanh thênh thang mây trắng và cứ mặc cho những ngụm nước trôi vào miệng, những thời khắc đó tôi cảm nhận được vị giác thanh thao của nước và hương thơm nhè nhẹ của các loài thực vật dưới đáy sông. Một điều minh chứng là bắp dọc theo bờ sông Hương đặc biệt là bắp xứ Cồn ngọt một cách tao nhă và hến của sông Hương có vị ngọt lạ lùng đượm mùi nắng mưa xứ Huế đă tạo nên cho xứ sở một món cơm hến lừng danh mà đặc biệt nhất là cơm hến ở Cồn Hến.

 

Tuổi thơ của tôi gắn bó với miền sông nước, hàng năm bao nhiêu lễ hội được tổ chức trên sông  như lễ hội rước Mẫu ở điện Ḥn Chén; tháng Bảy vía cha, tháng Ba vía mẹ của Tiên Thiên Thánh Giáo đóng ở cuối đường Chi Lăng gần bến đ̣ chợ Dinh, lễ Phật Đản vào ngày rằm tháng Tư, vào ngày 24, 25 tháng Sáu Âm lịch lễ rước Hến ở Cồn Hến; một dải đất án ngự ngay trước mặt nhà tôi và thỉnh thoảng lại thấy đám cưới tổ chức trên miền sông nước, những lễ cúng đốt h́nh nộm để tế thuỷ thần … tiết mục mà những đám trẻ thơ thích nhất là ngắm nh́n những chiếc thuyền hoa và hàng trăm chiếc hoa đăng lênh đênh trên sông, mỗi đứa trẻ tự chọn cho ḿnh một chiếc hoa đăng và bềnh bồng theo ánh sáng vàng của những ước nguyện. Những đêm trăng tôi như bị mê hoặc bởi ánh trăng vàng mông lung lấp loáng trên sông, đưa bước chân tôi tiến dần đến phía sông c̣n ánh mắt bị hút vào đoá hoa trăng huyễn hoặc, liêu trai giữa một màu sông cô độc. Hoặc những buổi chiều khi ánh nắng khuất về phía núi để lại một gam màu huyền ảo trên sông khiến bao hoạ sĩ phát ghen. Lúc này sông Hương như một đoá hoa lớn với đủ các sắc màu bao phủ khắp Cố đô. Những ngày mưa, sông như một dải lụa mềm biêng biếc được gắn kết vô số những bông Huệ trắng toả ngát hương quấn quanh phố thị. Những chiều trời trở gió, nước sông cuồn cuộn tạo nên những sóng hoa trắng xoá phả vào hư không. Khi màn đêm bao phủ vô vàn những v́ sao in bóng dưới ḷng sông và những ánh đèn của nền văn minh đô hội tạo nên những đoá hoa lung linh, hư ảo. Những buổi sớm sương mù bủa khắp mọi nẻo đường, bất chợt trong màn sương trắng ngà ngọc hé những đoá môi hồng cười nói hồn nhiên của các thiếu nữ trong màu áo dài trắng tinh khôi đang đến trường. Rồi trong chốc lát những tia nắng vàng óng mượt buổi ban mai xuyên qua những kẽ lá chạm vào mặt sông tạo nên những đoá hoa muôn màu rực rỡ.

 

Xứ Huế, mùa Hạ có hoa sen toả hương d́u dặt từ các ao hồ lan toả khắp nơi rồi theo gió hoà vào sông nước, hoa phượng đỏ thắm và hoa bằng lăng tím mặn mà dưới nền trời trong xanh, mùa Xuân nở rộ những hoa mai vàng rực rỡ khắp các góc phố, miệt vườn. Ngoài những loài hoa do người dân trồng nên, xứ Huế c̣n có các loài cỏ dại mọc lên ven các biền sông nở những bông hoa nho nhỏ khoe sắc tím, sắc hồng thơm dịu, hương các loài cỏ hoa góp phần tăng thêm vị thơm của sông Hương.

 

Khi biết những cái tên mà ḍng sông đă khoác lên ḿnh để bây giờ mang tên Hương giang như một định nghiệp, để những người có quê xứ là miền Hương Ngự dù xa xôi ngàn dặm mà ḷng cứ ray rứt mơ về quê xưa. Xin được trích hai câu thơ không rơ của tác giả nào: “Dù đen bạc là nơi cố xứ / nhưng đi biền biệt cũng không đành” để gửi gắm cho những người con xứ Huế.

 

Đă từ lâu tôi đă muốn gọi sông Hương là ḍng sông Hoa và mong ước dọc theo các triền sông từ ngọn nguồn cho đến cố quận là những vườn hoa lá đủ các sắc màu phủ bóng bên ḍng Hương và toả mùi thơm hoà vào không khí, vào nguồn nước trong xanh để thanh lọc hồn người. Ôi, ḍng sông Thơm đẹp đến mê hồn đă khiến nhiều văn nhân, thi sĩ cổ kim hết biết bao giấy mực. Cũng trên ḍng sông tưởng chừng thơ mộng, nhẹ nhàng này đă có bao cuộc binh biến và để có được “Hương giang quốc gia chi bảo” hôm nay th́ vua Trần Nhân Tông đă phải dằn ḷng gả công chúa Huyền Trần cho Chế Mân, vua Chiêm Thành, đổi lấy châu Ô, châu Lí trong đó có ḍng Hương giang. Ôi, một ḍng sông thiêng liêng đi vào sử sách bởi nàng công chúa, một kiếp hoa trinh bạch phải cam chịu, hy sinh cái đẹp của phận ḿnh cho nước Đại Việt. Vẻ đẹp của sông là bộ mặt của “ngôi nhà” lớn, biểu hiện văn hoá của người bản xứ, nét đẹp và hương thơm của hoa không phải tự nhiên mà có mà do một quá tŕnh lao động, trải qua sự chắt lọc chính ḿnh để thâu nhận linh khí trời đất và phải được bàn tay tài hoa của những con người tâm huyết chăm chút. Cái đẹp quư phái của ḍng Hương giang không những đă được người ngoại tỉnh chiêm ngưỡng mà ngay cả người nước ngoài đă phải sững sờ khi ghé thăm Cố đô và có người trong tổ chức bảo vệ Di sản thế giới của UNESCO nêu ư kiến nên lập hồ sơ để đề nghị trước bạ sông Hương thành Di sản nhân loại. Không lẽ chúng ta, những người sống trên quê xứ lại không thấy, không nghe, không biết và không cảm được vẻ đẹp hiếm có đó!


VỊ HUẾ

Gia vị có nghĩa là tăng thêm vị cho các món ăn, vị được cảm nhận qua hệ thống thần kinh ở lưỡi. Mỗi vùng đất, mỗi xứ sở có những khẩu vị khác nhau. Nhưng không nơi nào như Huế cả, người Huế dùng gia vị trong các món ăn hàng ngày rất đặc sắc. Các vị chính chua, cay, mặn, đắng, chát, nồng, ngọt… và đặc biệt hơn là người Huế yêu rất dai, nhưng vị yêu th́ được cảm nhận qua… tất cả các giác quan.

 

Cay

 

Người Huế đa phần đều ăn rất cay, từ các món ăn thường ngày trong nhà đều nêm nhiều gia vị, đặc biệt là tiêu, ớt, hành, tỏi, gừng,... mỗi thứ đều có cái vị riêng của nó, nhưng đều có tính chất chung là cay. Tiêu vừa cay vừa thơm, chất cay của ớt kích thích khẩu vị và dư âm đọng lại rất lâu, hành vừa cay vừa hăng, thường dùng để khử các mùi của chất béo như dầu, mỡ, c̣n tỏi th́ khỏi phải nói đă cay mà lại c̣n nồng và gừng th́ cay d́u dặt thường dùng làm gia vị cho nước mắm để ăn với thịt vịt luộc. Như trong món cơm hến Huế nếu không cay th́ rất vô duyên, phải thật cay, vừa ăn vừa hít hà mới đă, c̣n thịt nướng, nem lụi th́ ăn với nước lèo và tỏi.

 

Chua

 

Thông thường vị chua được dành cho con gái Huế, xin liệt kê vài thứ: măng chua, dưa chua, cải chua, tôm chua, nem chua, sốt cà chua, giấm, chanh... Ngó vậy mà trong các món ăn có vị chua, cánh đàn ông cũng thích rất nhiều món như: ḅ nhúng giấm chấm mắm nêm, nem chua, tôm chua…

 

Mặn

 

Ngoài muối không thể thiếu trong các món ăn, ở Huế c̣n có nhiều loại nước mắm. Đặc biệt là nước mắn ruốc rất thơm ngon và rất bổ dưỡng, nước mắm ruốc thường để chấm thịt heo luộc. Người Huế c̣n ăn bún với nước mắm, giă trái ớt đỏ, vài múi tỏi khô, đổ nước mắm vào rồi vắt múi chanh, thêm chút đường khuấy đều là có chén nước mắm thơm ngon để ăn với bún, đặc biệt là con bún nổi tiếng ở làng Vân Cù huyện Hương Trà.

 

Chát

 

Vả là đặc sản của Huế, những món ăn được nấu chín như vả trộn, vả hầm,… Người Huế c̣n ăn vả sống, vả dầm. Vả sống thường được cắt mỏng ngâm nước muối để cho lát vả giữ được độ trắng tươi, ăn với rau sống (là những  loại rau mọc quanh nương vườn như rau thơm, rau muống, cải cay, diếp cá, bồ ngót, tía tô, rau sam, dền, me đất, lá lốt, rau tàu bay…) cùng với thịt heo và tôm chua. Món rau sống ở Huế đa phần là các vị thuốc nam như diếp cá, tía tô, rau sam, chuối chát,... đều là những vị thuốc giải nhiệt và trị về đường ruột. Ngoài vả c̣n có chuối chát, khế chua là những lát chuối xanh tṛn mỏng được trang điểm trên những dĩa rau sống để ăn bánh cuốn thịt nướng, nem lụi,…

 

Đắng

 

Tôi đă đi nhiều tỉnh, cả những tỉnh quê hương của cafe như Đắc Lắc, Kon Tum, Plâycu, Lâm Đồng,… nhưng ngồi uống cafe tại “cội” th́ không đậm đặc như Huế. Ở Sài G̣n ly cafe lớn lắm và thường dùng để giải khát trông như nước đậu ván, c̣n Hà Nội muốn uống được cafe đậm th́ phải gọi theo số, tôi nhớ không lầm th́ cafe số 8 là loại đậm đặc nhất ở Hà Nội, so ra th́ cũng không đậm đặc như cafe đen ở Huế và vị th́ không thể nào như Huế được. Cafe xứ Huế đắng và bùi ngùi cái vị của phong trần, gió sương. Ngồi nhâm nhi ly cafe nh́n trời đất mưa nắng, nh́n người người ngược xuôi mà chợt thấy ḷng b́nh yên, ấm áp lạ thường. Trong vị đắng như có cái vị dịu ngọt bùi rất mơ hồ, xa xăm… Nói đến cafe ngoài vị ra th́ c̣n có cả hương và hương th́ luôn đến với người thưởng thức trước vị.

 

Ngoài thức uống, người Huế c̣n ăn mướp đắng, rau đắng.

 

Nồng

 

Đă là rượu th́ phải nồng, phải đắng, phải cay. Có thể kể ra một số rượu làng quê Việt Nam tiếng tăm như: Sán Lùng, Làng Vân ở miền Bắc, Bầu Đá ở B́nh Định, rượu Kim Long ở Quảng Trị, rượu gạo Làng Chuồn ở An Truyền, Phú Vang… Có điều người Huế thường uống rượu rất nồng. Chỉ cần chút ǵ nhâm nhâm là có quyền ngồi nhi nhi với trời đất giá rét mùa đông xứ Huế.

 

Ngọt

 

Nói đến vị ngọt làm chúng ta liên tưởng đến chè, chè Huế là món ăn rất độc đáo được kết hợp giữa các loại hạt như đậu xanh, đỏ, đậu ngự, đậu ván, hạt sen, kê, bắp,…hay loại củ như khoai tía, ném,… được nấu với nước và đường. Ngoài ra, vị ngọt cũng được sử dụng trong các bữa ăn mặn như: món vịt tiềm với thuốc bắc như táo, câu kỷ tử,… hầm gà trong trái dừa non với các vị thuốc bắc là bài thuốc rất bổ, nước mắm ngọt là một loại nước chấm để phục vụ cho bánh cuốn thịt nướng đang nổi tiếng ở vùng Kim Long.

 

Cách thưởng thức món ăn của người Huế không những mang tính triết lư, nghệ thuật, với hương vị đậm đà,… mà c̣n tàng ẩn cả kho tàng đồ sộ về y học dân gian. Gia vị Huế thường được sử dụng như để cân bằng âm dương của các món ăn như thịt vịt (mát) được chấm nước mắm gừng (nóng) và thịt vịt lại thường được ăn vào mùa hè, hay trứng vịt lộn ăn với rau răm và muối tiêu, ngoài ra gia vị c̣n sử dụng để điều hoà giữa con người với thời tiết như mùa lạnh th́ ăn cay. Người ta thường nói người Huế không phải chỉ ăn bằng miệng mà c̣n thưởng thức bằng mắt qua các sắc màu hấp dẫn, hài hoà, các h́nh thể tinh tế như nem công, chả phụng,… hưởng bằng mũi qua mùi hương, nhưng tôi lại thấy rằng người Huế thưởng thức bữa ăn cả bằng thính giác và xúc giác, bởi người Huế thích ngồi ăn uống ở những nơi thoáng mát, không gian yên tĩnh. Trong các gia đ́nh thường mượn bữa ăn để giáo dục con cái một cách rất sâu sắc. Thỉnh thoảng, chủ nhân những miệt vườn khá giả ở Huế tổ chức dạ tiệc, hay trong cung đ́nh, phủ đệ,… và trong bữa ăn họ thường kể chuyện vui, nghe nhạc d́u dặt nhưng không thể so sánh với bữa ăn dân dă của những gia đ́nh rặt Huế, với đĩa rau muống luộc xanh non, chén mắm nêm giă tỏi ớt, bát canh rau luộc thanh thao, đĩa cá bống thệ kho khô cong vàng nứt lưng, chợt trở thành buổi thưởng thức rất ư vị và đậm đà hương quê.


RÊU PHONG THÀNH CỔ

Rêu phong như biểu tượng cho nét u hoài xưa cổ, góp phần níu giữ lại những mảnh thời gian quư hiếm và gợi lên nỗi niềm miên man dẫn dắt hồn người trở về cố hương.

 

Không phải vùng đất nào cũng có thể nhuốm màu rêu phong. Có thể gọi rêu phong là một tặng vật của thiên nhiên đă trao cho Cố đô. Khi những chuyến gió chở theo hơi nước vi vu qua dải đất Thần kinh khắc nghiệt, gió như đă góp sức hồi sinh những mầm sống li ti mạ trên bề mặt trơ ĺ của các vách đá, thành quách, tạo thành những vệt rêu phong bềnh bồng phủ xanh thành quách của những chùa chiền, phủ đệ, những đền đài lăng tẩm, những b́nh phong của các ngôi nhà vườn, những dáng cây hao gầy cam chịu,… và những tâm hồn hoài cổ triền miên trong kư ức xa xăm… Ôi! Rêu phong Huế là chiếc áo của người nghệ sĩ lang thang lặng lẽ trong mưa gió, chiếc áo choàng làm tăng thêm chất lăng đăng, thơ mộng của cơi hồn mông lung, bát ngát và khí phách kiêu bạt trước giông tố dữ dội của trần gian.

 

Xứ Huế ngoài những nét độc đáo như quần thể di tích gồm hệ thống kinh thành, các lăng tẩm, những ngôi chùa, nhà vườn, nhà rường, sông Hương núi Ngự, những vườn đá… c̣n tàng ẩn cái hồn của rêu phong. Rêu phong ở Huế không những tô điểm thêm nét cổ kính của thành quách, chùa chiền,… mà c̣n gợi lên trong ḷng người cảm giác gắn bó, thân thương. Ôi! Rêu phong như tấm thảm nhung diệu kỳ đưa chúng ta ngược ḍng thời gian trở về cái đẹp thơ mộng của thuở ban đầu đă ch́m trong quá khứ xa xưa. Nhưng không phải nơi nào có rêu phong đều tạo nên những khung cảnh trữ t́nh, cổ xưa… mà phải có sự kết hợp hài hoà giữa không gian, thời gian, thiên nhiên và con người,… và không thể thiếu những tâm hồn luôn hoài niệm về những dấu tích xưa. Rêu phong ở Kinh thành Huế như cái thần đang ở trạng thái tiềm ẩn, nó chỉ lộ ra với những tâm hồn đồng cảm. Những buổi chiều mơ hồ như ánh mắt thu, từng cánh lá vàng lả tả rơi rồi khẽ chạm vào tấm lụa rêu biêng biếc đă khiến tôi ganh tị, tôi thầm ước mơ cuộc đời nhẹ nhàng như những chiếc lá kia.

 

Mưa phùn của mùa xuân xứ Huế đă làm tăng thêm độ tương phản của màu xanh mặn mà những kỳ vọng, bức thành phủ đầy rêu xanh đưa tôi vào thế giới của ảo giác, những ḍng nước nho nhỏ, trong ngần như những đường gân xanh trên thân thể người con gái guộc gầy, bàn tay tôi run run khẽ chạm vào làn da mịn màng khiến tôi nhập vào nhịp thở của một thời vàng son đang tàng ẩn trong thế giới thẳm xanh vời vợi. Những mảng rêu phong ở Huế đă vẽ nên một bức tranh siêu thực bởi gam màu xanh pha lẫn chàm, từng mảng rêu xanh như những điểm nhấn mà đấng sáng tạo đă tạc vào không gian Huế một tuyệt tác rất lăng mạn và rất hoành tráng. Có người đă mượn rêu để hỏi tuổi của đá “Hỏi đá xanh rêu bao nhiêu tuổi rồi(1), phải chăng rêu là dấu ấn của thời gian, xác nhận ngày sinh của đá, hay rêu phong là vết hằn của gă thời gian c̣n luyến tiếc những ǵ thuộc về quá khứ nên đă gửi vào thiên nhiên, đất đá, thành quách… và con người những cảm thức gợi t́nh?

 

Chúng ta hăy thể nhập vào hồn liêu trai của rêu phong trên những bờ tường của Kinh thành rồi sẽ nghe tiếng vọng của thời gian, âm vang của những vó ngựa và h́nh ảnh “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo(2) thuở Lê triều sẽ hiện về như một thực tại sống động.

 

Dọc theo triền sông Hương đến chùa Thiên Mụ, chưa kịp ngước nh́n lên ngôi tháp vời vợi giữa nền trời bao dung chúng ta đă thấy h́nh ảnh của tháp Phước Duyên lấp loáng, uyển chuyển dưới ḍng Hương giang xanh biêng biếc. Khung cảnh thật hữu t́nh, thơ mộng giữa sông nước, núi đồi,… và con người. Ngôi chùa cổ đă tồn tại sừng sững giữa đất trời gần 500 năm là h́nh ảnh thiêng liêng đă khắc sâu trong tâm khảm của người dân xứ Huế, như giáo lư bất sinh, bất diệt của đức Phật đă lan toả khắp mọi nơi và tồn tại măi măi ở thế gian này. Sự có mặt của những đám rêu phong đă góp phần tăng thêm nét cổ kính của ngôi chùa, rêu xanh như thắp lên niềm hy vọng hoà vào màu xanh của sông nước, cỏ cây và bầu trời thăm thẳm một màu xanh ngút ngàn.

Những phủ đệ của các công thần, quận chúa ở quanh Kinh thành Huế như ấp ủ một nỗi khát khao thầm kín, e ấp, tiếc nuối,… lại được khảm thêm những áng rêu mượt mà làm tăng thêm vẻ kín đáo như các người đẹp hồi giáo phủ khăn che mặt khi dạo bước trên phố thị yêu kiều. 

Xuôi về phố cổ Bao Vinh, Gia Hội tôi không khỏi ngẩn ngơ trước những mái rêu phong chập chùng trong kư ức. Tôi bàng hoàng trước ngôi nhà lắng đọng biết bao lớp mái thời gian, căn nhà xa lạ, lạc loài giữa không gian cô quạnh “C̣n rong rêu trên vừng trán của nhà thơ/nhân chứng áo xanh ăn ṃn các kinh sách trong thư viện(3). Con đường Bạch Đằng bồng bềnh những mái rêu xanh, như một nhân chứng đă lắng nghe âm hưởng đơn độc từ những tiếng bước chân khắc khoải giữa đêm khuya của nhà thơ “…Chỉ có ḿnh tôi với rong rêu ưu phiền/ buổi mai trầm tư/ với đôi tay trần chơ vơ như thỏi sắt…(4), những bước chân đă sớm phiêu bồng vào miền rêu phong xanh thăm thẳm của Huế cho đến khi nở rộ đoá “Hoa cô độc” (5) toả ngát hương rồi lụi tàn vào gió cát. Rêu phong không chỉ quanh quẩn ở thị thành mà c̣n tản mát ở những góc khuất của Huế, nơi những mái phố đơn chiếc, những đ́nh làng yên ả xa xôi,… bất cứ nơi nào dù ở miền quê hẻo lánh hay trên đồi núi cheo leo,… hễ có dấu vết của rêu phong loang phủ là đă gợi lên một nỗi niềm u uẩn, một nét đẹp của tâm hồn, sự lắng dịu trong ḷng người để hướng vào thế giới nội tâm như “…Những vệt rêu chiêm nghiệm cơi riêng ḿnh… (6) dẫn dắt chúng ta về lại cố hương yên b́nh. Và trong cuộc miên man trở về với quê hương, với cội nguồn,… ai ai cũng mang nỗi sầu muộn, nuối tiếc,… lắng đọng trong tiết nhịp của thời gian lưu lại nơi vết rêu loang buồn mà Trịnh Công Sơn đă trải nghiệm “…Ôi tiếng buồn rơi đều, nh́n lại ḿnh đời đă xanh rêu…(7). Ôi! Rêu phong Huế thật kỳ diệu đă tô điểm thêm những mảng màu hy vọng cho vùng đất Thần kinh cổ kính, uy nghi. Và rêu phong phần nào đă níu giữ những giá trị xưa quư của quá khứ gửi vào trong tâm hồn con người. Bốn loại vật chất đất, nước, gió, lửa (nhiệt) đă góp phần tạo nên vạn vật... cũng từ quy luật đó rêu phong xứ Huế đă tựu thành và khảm vào trong tâm thức của người dân Cố đô một bức tranh trang nhă, lung linh và huyền ảo.


TRỊNH CÔNG SƠN

MỘT HỒN BI CA

Thể xác Trịnh Công Sơn hoà vào đất, nhưng những ḍng thanh âm của anh vẫn măi c̣n du dương bay lượn quanh địa cầu này . Một giải  thưởng âm nhạc  “V́ hoà b́nh” của tổ chức thế giới trao tặng, có lẽ không quan trọng đối với anh bằng những ǵ anh đă oằn ḿnh trải nghiệm giữa cuộc sống đầy rẫy những hồ nghi và đố kỵ, cuộc sống mà anh hằng yêu thương mănh liệt “Tôi là ai, là ai, là ai,… mà yêu quá cuộc đời này”. Khúc bi ca “Đừng tuyệt vọng tôi ơi đừng tuyệt vọng” là lời cảm thán để tự nhắc nhở chính bản thân ḿnh và mọi người hăy vui sống với những kỳ vọng của cơi ḷng, cho dù chúng ta đang đối diện với thực tế đau buồn. Trịnh Công Sơn là nhạc sĩ của thời đại mà chính anh đă thể nghiệm và chứng kiến những cảnh tượng tan thương, đau xót trên quê hương ḿnh. Và trong chuỗi dài quá khứ của nhân loại đă xảy ra biết bao sự kiện kinh hoàng do chiến tranh gây nên. V́ vậy, mà cánh nhạc của anh đă bay khắp thế giới và chạm vào nỗi cô liêu mà mỗi phận người phải đối diện. Chỉ có những trái tim ngập tràn niềm bi thương, cùng với tài năng của một nghệ sĩ mới tạo thành một nhạc sĩ danh tiếng như vậy.

 

Trịnh Công Sơn là nhân vật đặc sắc có một không hai trong những thước phim đặc biệt cuối thế kỷ XX, trong anh là những suối nhạc đang ào ào tuôn chảy, lúc cuồng nộ thét gào trước tang tóc, khổ đau của đồng bào, lúc bi ai uất nghẹn, ứa những “Giọt nước mắt thương dân, dân ḿnh phận long đong”, lúc trầm bỗng thiết tha về t́nh yêu và thân phận. Những phẫn nộ của anh trước cuộc chiến phi lư đă được thể hiện trong những Ca khúc da vàng, Phụ khúc da vàng, Kinh Việt Nam, Ta phải thấy mặt trời, qua những lời ca như “Hai mươi năm nội chiến từng ngày” hay h́nh ảnh “Người già co ro buồn nghe tiếng nổ”, rồi tiếng “Đại bác ru đêm dội về thành phố”, “Đại bác như kinh không mang lời nguyện”; và anh đă thấy trong “Từng vùng thịt xương có mẹ có em” hay khi “Lật xác quân thù, mặt người Việt Nam trên đó”, “ Đi trên những xác người: bao năm thắng những ai? “ và "Xác người nằm trôi sông phơi trên ruộng đồng/ Trên nóc nhà thành phố trên những đường quanh co/ Xác người nằm bơ vơ dưới mái hiên chùa/ Trên giáo đường thành phố trên thềm nhà hoang vu...".

 

Họa sĩ Bửu Chỉ, người bạn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, người đă từng hát những ca khúc phản chiến của họ Trịnh trong phong trào đấu tranh để đ̣i hoà b́nh cho dân tộc cũng đă thừa nhận “…và phải nói một cách thành thật rằng chính những ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn trong những năm đầu tiên đă đánh thức trong tôi t́nh tự dân tộc”.

 

Điều ấy c̣n thể hiện nhiều trong những giai điệu trữ t́nh, tha thiết được biểu cảm qua những tập t́nh ca Khói trời mênh mông, Tự t́nh khúc, Tuổi đá buồn, Một cơi đi về,…

 

Huế là vùng đất mà Trịnh Công Sơn đă sống và trưởng thành, nơi anh đă gởi gắm rất nhiều t́nh cảm và để lại những kỷ niệm vui buồn ở vùng đất đầy rêu phong, mưa, nắng,… Có thể nói xứ Huế là một trong những yếu tố h́nh thành nên chất nhạc của Trịnh, bởi không gian và thời gian ở Cố đô như chuyển động chậm hơn những vùng đất khác nhưng lại hàm chứa những linh khí của trời đất và tràn trề bầu nhiệt huyết, v́ vậy mà giai điệu thướt tha, bi thiết trong các t́nh khúc của anh mang đậm âm sắc xứ Huế.

 

Ai đă từng sống ở Huế ắt sẽ biết đến nắng và mưa ở xứ này, nắng mưa Huế đă đi vào trong nhạc Trịnh qua những ca từ rất lăng đăng, mơ hồ “Gọi nắng trên vai em gầy, đường xa áo bay”, “Nắng có hồng bằng đôi môi em” hay “màu nắng hay là màu mắt em”, “Trời ươm nắng cho mây hồng”  hay “Nghe lá thu mưa reo ṃn gót nhỏ”, ”Mưa có c̣n buồn trong mắt trong”, “mưa bay trong ta bay từng hạt nhỏ” và rất nhí nhảnh nhưng lại ẩn chứa một nhân cách cao cả “Tôi thu tôi bé lại làm mưa tan giữa trời”…

 

Những ca từ độc đáo của anh gợi lên h́nh ảnh người con gái Huế trong những thập niên 60, 70 là h́nh ảnh guộc gầy của bờ vai “Vai em gầy guộc nhỏ”, hay rất mơ hồ qua ḍng tóc “Ôi tóc em dài đêm thần thoại”, sự hồn nhiên trong ánh mắt người con gái “ màu nắng hay là màu mắt em” của cái  “Nắng Thuỷ Tinh” lạ kỳ ở xứ Huế,…

 

Mỗi bản t́nh ca của anh như ghi lại một kỷ niệm đẹp dâng lên từ trái tim trần gian nhưng rất thánh thiện, t́nh yêu đôi lứa với anh là những biểu cảm nồng ấm đang tuôn chảy trong huyết quản và được anh biểu hiện rất chân thật “Tôi là ai mà c̣n trần gian quá” hay “Từng người t́nh bỏ ta đi như những ḍng sông nhỏ” hay "lúc đưa em về là biết xa ngh́n trùng" “Tôi có người yêu vừa mới đêm qua. Yêu thật t́nh cờ, yêu chẳng hẹn ḥ“,…

 

Huế là nơi hội tụ của nhiều luồng văn hoá, tôn giáo, và một thời là kinh đô của cả nước, những luồng văn hoá đă giao thoa và h́nh thành những dấu ấn riêng được lưu truyền trong đời sống của người dân xứ Huế. Tôn giáo nói chung mà đặc biệt Phật giáo và Thiên Chúa giáo có những ảnh hưởng đến nhạc của Trịnh qua các nhạc phẩm Ngẫu nhiên, Quán Thế Âm hay Lời buồn Thánh, Phúc âm buồn… với những ca từ mang h́nh tượng tôn giáo như "tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người" hay “Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi”, “Đợi chờ yêu thương trên cây thánh giá, đợi xoá sân si dưới bóng bồ đề “, “Đi về giáo đường ngày chủ nhật buồn…”. Và chất nhạc dân gian như Chầu văn, nhạc Ngũ cung đă đi vào trong ca khúc của anh qua bài Nối ṿng tay lớn, Ngẫu nhiên, Huyền thoại mẹ… Điều thể hiện xuyên suốt trong ḍng nhạc của anh ngoài trái tim mẫn cảm chan chứa t́nh người, t́nh yêu quê hương,… trong ca từ của anh c̣n tàn ẩn tính triết học gồm những cặp mâu thuẫn cùng song hành và bổ khuyết lẫn nhau.

 

Những cánh nhạc của nghệ sĩ tài hoa họ Trịnh không chỉ bay lượn trong không gian Huế, trong ṿm trời Việt Nam mà thênh thang khắp tinh cầu để rung lên những hồi chuông  thức dậy ḷng nhân ái trong mỗi con người và chuyên chở một ước vọng cao quư là mang lại hoà b́nh cho toàn thể nhân loại. T́nh khúc của anh đă tạo cho người nghe cảm giác rất hồ như xa xăm nhưng rất gần gũi, thân thiết như “Về cội xưa níu tay ngh́n trùng”. Ước mơ lớn nhất của anh vào những năm tháng đất nước đang chiến tranh là khát vọng thấy hoà b́nh và anh đă nh́n thấy sự mất mát lớn lao sau khi chiến tranh kết thúc “Đêm nay hoà b́nh, sao mắt mẹ chưa vui. Nh́n quanh anh em không ai c̣n lại “. Khi đất nước thống nhất, sự đợi mong đă đến “Chờ ngày Việt Nam thống nhất cho những t́nh thương vỡ bờ”, anh lại khao khát vấn đề nhân sinh, vấn đề trăm năm của thân phận con người, “Bao nhiêu năm rồi c̣n măi ra đi”, “Người ngồi đó nhưng trong tim máu tuôn ra ngoài”,… để rồi đến giây phút cuối đời, anh lại có mong ước thật giản dị nhưng rất nặng nghĩa t́nh mẫu tử là được an táng bên cạnh nấm mồ của mẹ. Trong quá khứ các triều đại thịnh suy theo ḍng biến dịch, nhưng âm nhạc của Trịnh sẽ sống măi măi trong ḷng dân tộc, bởi ngôn ngữ và âm thanh của anh đă hoà quyện vào nhau để h́nh thành những ca khúc v́ hoà b́nh của một dân tộc đă kinh qua biết bao cảnh tượng hăi hùng, khiếp đảm của chiến tranh trong suốt mấy ngàn năm lịch sử và những ca khúc của anh đă chạm vào chuyện “trăm năm”; một giới hạn của mỗi phận người “Ôi trăm năm làm kiếp con người” và “Cho trăm năm vào chết một ngày”… và anh đă hoá thân “Thằng bé xinh xinh bay vờn giữa Ngọ” thiêng (lúc 12 giờ 45 phút ngày 1 tháng 4 năm 2001), anh thật sự đi vào cơi trăm năm rồi, c̣n đâu? C̣n đâu? Nhưng cơi trăm năm anh đến là vĩnh cữu, bởi vẫn c̣n những khúc bi ca đầy tự t́nh của anh măi măi vang vọng suốt ḍng thời gian bất tận và không gian muôn trùng.


MÂY NÚI BỀNH BỒNG

CƠI HOA THƠ

Không biết đă bao nhiêu lần lên Huyền Không Sơn Thượng, thời sơ khai con đường đất quanh co, uốn khúc, dốc dựng cao, đá lởm chởm, xe máy loại phân khối lớn và máy phải c̣n mạnh mới leo nổi. Vậy mà rất nhiều anh em đă không ngại đường xa hiểm trở, bất kể mưa nắng để đến với núi đồi, đến với không khí thiền, đến với con người… Từ thuở núi đồi hoang vu cho đến khi có bàn tay và khối óc con người th́ hàng ngàn chồi bạch đàn, chồi thông vươn lên trong mồ hôi và nắng gió đă biến vùng núi đồi trọc thành miền núi rừng thanh cao, mơ mộng. Thuở đó những mầm xanh chưa vượt quá đầu người. Thời gian đó người bạn tôi cùng những chú điệu mỗi chiều kéo từng xe đất, xe vật liệu từ chân núi lên đỉnh. Lúc đó chùa chỉ có Phong Trúc am và những tịnh cốc ẩn ḿnh trên các đỉnh núi, phía sau Phong Trúc am là khu rừng mà sư Giới Đức có ư định cải tạo thành rừng Đầu đà. Hạnh Đầu đà là những giới hạnh nghiêm ngặt của Phật giáo Nguyên thuỷ. Từ trong thăm thẳm khu rừng đó là ḍng nước trong vắt, mát mẻ tạo thành khe suối được dẫn lưu bởi công sức con người ra đến khuôn viên nhà chùa nhằm phục vụ cho việc sinh hoạt, tưới cây của chùa. Nhắc tới ḍng suối nửa thiên tạo, nửa nhân tạo này bỗng trong trí tưởng tôi hiện lên h́nh ảnh những người bạn xa xưa đă thay nhau ngâm ḿnh khi thời tiết nắng nóng, hay sau cuộc rượu tàn nơi cái ao nước trong veo nho nhỏ bên cạnh khe suối. Bây giờ mỗi lần ghé thăm chùa ngang qua ao nước là thấy bóng h́nh của chính ḿnh đang được thanh lọc và những h́nh ảnh trong quá khứ xa xăm chợt hiện về, trong đó có Đạo nét mặt khắc khoải trong cơi siêu h́nh chừ đă hết duyên làm tăng, dáng anh Phương mơ hồ khuất xa phía núi, sắc mặt Thu đỏ tía v́ rượu, và nét ngây dại ở gương mặt trí tuệ của Hoàng Nguyệt Xứ, rồi nụ cười trong sáng thoáng hiện hồn nhiên trên đôi môi của sư Tường Huy… và ánh nh́n xa xăm về phía núi trong đôi mắt nhân từ của sư Giới Đức. Có một chiều từ Phong Trúc am chúng tôi kéo nhau lên cốc của sư Tường Huy, ngồi dưới mái tranh tựa lưng vào núi chợt nghe âm thanh trong sâu thẳm ḷng đất dội về, lời của đất đá trầm hùng vang dội khiến cơi ḷng xốn xang, dáng vẻ bên ngoài của núi càng trầm mặc, vĩ hùng th́ bên trong thăm thẳm càng cuồn cuộn những ḍng năng lượng bí ẩn. Kể từ hôm đó về đầu tôi bỗng nặng và đau, thuốc men và chẩn đoán nhưng không giảm mà càng ngày càng nặng thêm, rồi một hôm sờ tay lên đầu bỗng thấy u cộm lên, tôi nhờ nhiều người xem nhưng không ai phát hiện và cuối cùng nhờ bàn tay của người con gái xứ Huế mà 3 con bét tranh đă được bấu ra với 3 cái bụng căng đầy máu, ngay lúc đó cảm giác tâm lư đă giúp tôi yên ḷng và đầu óc nhẹ tênh.

 

Gần đây một chuỗi hạt duyên lại dẫn dắt tôi trở lại Huyền Không Sơn Thượng qua sư Chân Mỹ - một người đă tốt nghiệp ngành điêu khắc ở Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, lang thang từ miền Bắc vào miền Trung và đă bị mê hoặc bởi không gian thời gian và con người xứ Huế, hay một cách nh́n khác là một chuỗi hạt duyên rộng lớn đang ẩn tàng và dẫn dắt bước chân, tâm tưởng của Hà Minh Tuấn đến với Phật pháp, đến với Huyền Không Sơn Thượng. Vậy là tôi lại lên Huyền Không bềnh bồng dáng núi bạt ngàn gió mây, đá khảm chữ đất hoá rừng cây, sương khuya đọng cánh hoa gầy, sớm mai rộn tiếng chim muông gọi bầy. (ngẫu hứng khi viết bài tặng Huyền Không Sơn Thượng).

 

Bẵng đi một thời gian dài không lên Huyền Không Sơn Thượng, ngày đầu xuân tiết trời gợi cảm chợt nhớ núi, nhớ bạn, thèm con đường xưa heo hút… tôi cùng nhà văn Dương Thành Vũ lang thang miền núi đồi thăm người “yêu trần gian mà không dám cầm tay”, thăm vị sư “lên non cao c̣n sợ thuỷ triều dâng”. Và trên “lối xưa xe ngựa hồn thu thảo” nhưng hôm nay những đoạn dốc đất đá lởm chởm rất khó đi của ngày trước đă được bê tông hoá phần nào, c̣n rừng thông và bạt hà th́ cao vút giữa trời xanh mây trắng đang vi vu theo gió hoà cùng tiếng chim rừng, tiếng nước róc rách từ các khe đá… Cạnh vườn phong lan nổi tiếng “Lan Huyền Không” đă đi vào trong văn chương là hồ nước mênh mông vừa được tạo dựng, cảnh sơn lâm hữu t́nh nay thêm thuỷ lại càng tăng thêm vẻ đẹp. Giữa hồ mọc ḥn đảo nhỏ có non bộ, có cầu tre ngang qua dặt d́u. Lang thang quanh núi đồi ngắm cảnh sắc Huyền Không Sơn Thượng mới thấy thế núi non gợi t́nh gợi cảm, vang vọng tiết điệu hùng ca bi tráng, xa xa những áng mây ngũ sắc ẩn hiện trên đỉnh núi Chằm mơ ṃng như giấc mộng dài…

 

Bên cạnh Phong Trúc am là Phật điện trang nghiêm nhưng rất thoáng đạt và toát lên tâm thái b́nh đẳng, dễ gần. Ngồi đàm đạo cùng sư Giới Đức, chuyện tṛ văn chương cùng nghệ sĩ Minh Đức Triều Tâm Ảnh mới cảm được cái t́nh sâu nặng của sư. Sau mỗi tuần trà là một khoảng lặng, chính những khoảng lặng đó giúp tôi cảm được, hiểu được cơi ḷng người nghệ sĩ, thần thái của núi đồi và không khí thiền phả ra từ miền hoa thơm cỏ mộng. Trong cuộc hội đàm đó, chim và hoa cũng tham dự. Những chú chim rừng kỳ lạ có cái mồng trắng tinh khôi, mấy con chim sâu núi cổ mang sâu chuỗi hạt cườm đỏ thắm hồn nhiên nhảy múa rồi rủ đồng loại về quy tụ quanh thảo am, âm hưởng tiếng hót của mỗi loại chim rất đặc sắc nhưng khi hoà vào nhau cùng với tiết nhịp của gió và lá đă tạo nên bản hoan ca khoan thai giữa cơi miền thênh thang, tự tại. Thỉnh thoảng những con Bồ câu trắng vỗ cánh dưới ṿm trời b́nh yên, thơ mộng. Phía trước Phong trúc am là giàn hoa Móng Cọp đang buông từng chuỗi xanh dài trông như móng vuốt của mănh hổ đă được thuần hoá. Khi chiều đổ xuống, những mảng tà dương sót lại, lất phất màu khói lam khiến hồn thiêng của núi rừng và hồn người quyện lại. Tôi chia tay Huyền Không Sơn Thượng mà ḷng nuối tiếc, bởi lúc hoàng hôn buông cảnh sắc thật lung linh, ảo huyền và âm thanh của côn trùng lại tấu lên lời ca hoang dă hoà vào hơi đá, màng sương mỏng dần, mờ dần… phía xa xa những con dốc bềnh bồng ru hồn vào tiên khúc Thiên Thai của nhạc sĩ Văn Cao và trên lối về chợt dập d́u những nét chữ tài hoa, chan chứa t́nh người mà vị sư già đă đề tặng: “T́nh văn t́nh con chữ / Điểm thêu lớp rêu phong / Hồn cổ xưa tiêu sái / Nhàn vui cuộc lữ bồng”.


TÔN NGỘ KHÔNG

H̀NH ẢNH  KẺ LÊN ĐƯỜNG

Tác phẩm Tây du kư của Ngô Thừa Ân đă để lại trong ḷng người xem những nỗi niềm băn khoăn, trăn trở về một đời người, một chuyến Tây du, một cuộc lữ hành đến miền đất xa xăm bất tận, hay một sự trở về đầy gian nan, nguy hiểm nhưng không kém phần thi vị để khám phá cội nguồn bất diệt trong mỗi cá nhân đang sống, đang thể nghiệm trên hành tinh này.

Cuộc hành tŕnh gian nguy của thầy tṛ Đường Tăng với đầy những cám dỗ và cạm bẫy đă hấp dẫn người xem ngay từ những chặn đường ban đầu, phải chăng trong mỗi chúng ta, mỗi đời người đang diễn ra một cuộc hành tŕnh mà dù muốn hay không rồi ai ai cũng phải kinh qua, một chuyến đi bằng vật lư để di chuyển từ khung cảnh này đến khung cảnh khác bởi sự phân biệt của các giác quan hay cuộc lữ hành của tâm thức viễn ly để về với cơi ḷng, về nơi an trú của một thế giới thăm thẳm trong mỗi phận người.

 

Có lẽ từ khởi thuỷ, thuở hồng hoang của trời đất bao la và bí ẩn tất cả các hành tinh trong vũ trụ này chỉ là đất đá, nước, gió và lửa (nhiệt).

 

Nhân vật Tôn Ngộ Không có nguồn gốc từ một tảng đá rất cao lớn ở núi Hoa Quả hùng vĩ giữa đất trời, tảng đá cao lớn đó đêm ngày hấp thụ nhiệt độ của trời đất, dần dần tụ tinh nứt ra một viên trứng đá. Qua rất nhiều năm, viên trứng đá ấy tượng h́nh, rồi gặp một trận cuồng phong trứng nở ra một con Khỉ đá, tựa h́nh người, có tai, mắt, miệng, mũi và tay chân rất linh hoạt. Khỉ đá có cặp mắt sáng chói sao Bắc Đẩu. Khỉ đá qua sự quy tụ linh khí của trời đất, vạn vật,… hay qua phép “Duyên” và đă gặp được sư phụ Bồ Đề để tu học thần thông và đạo lư. Cái tên Tôn Ngộ Không do sư phụ Bồ Đề đặt cho, phải chăng có ư nghĩa là bậc liễu ngộ được tánh không nhiệm mầu?

Tuy Ngô Thừa Ân xây dựng nhân vật Tôn Ngộ Không là một “con khỉ”, nhưng đây là con khỉ phi thường trong ḍng họ khỉ. Kinh Phật thường ví von tâm thức con người luôn vọng động như con khỉ chuyền cành, biện biệt, không chịu yên nghỉ… Chính cái tâm suy xét, di động liên tục đó ở h́nh thức thô nhất được gọi là ư thức của con người. Và cũng chính từ ư thức mà con người đă phân biệt được cái này, cái kia, điều tốt, xấu… theo những quy định và sự phát triển của xă hội.

Vào một ngày đẹp trời khi ánh nắng tươi vàng trên mặt đất, xoá tan đi những giá rét dai dẳng của mùa đông, mọi vật vận hành theo quy luật của trời đất, cỏ cây xanh tốt, ra hoa, nở lộc, không khí trong lành,… con người như hoà vào cùng hạnh phúc của thiên nhiên, và người ta gọi khoảng thời gian này là Mùa Xuân, mùa khai hoa, kết trái, mùa yên vui, sum vầy… và ư thức con người như được hun đúc, trợ lực để cùng bước vào một hoạt cảnh mới của cuộc đời tươi tắn hơn, trách nhiệm hơn và bi tráng hơn. Bởi một năm trôi qua của ḍng đời vô tận này như rút ngắn lại phận làm người của chúng ta và cứ thế bốn mùa chuyển luân Xuân, Hạ, Thu, Đông quay tṛn theo tiết nhịp của vũ trụ. Có lẽ mùa Đông hoặc mùa Hạ có trước mùa Xuân và mùa Thu bởi sự băng giá vẫn ở hai cực của trái đất hoặc có thể do một trận hoả hoạn, hay một vụ nổ kinh hoàng,… trong không gian điệp điệp trùng trùng và tạo nên những hành tinh mà con người chỉ vừa phát hiện qua các công cụ khoa học hay chỉ bằng tư duy lôgic… Sự h́nh thành vũ trụ, nguồn gốc của vạn vật có can hệ ǵ đến cuộc sống hôm nay của chúng ta? Tất cả những điều đó đă được lập đi, lập lại quá nhiều và cũng măi chỉ là giả thuyết đang nằm trong hố thẳm của sự bí ẩn mà cuộc viễn xứ của lư trí đang hoài công để khám phá và đưa con người ngày càng xa rời sự hồn nhiên, thánh thiện,… đồng thời xô đẩy nhân loại ngày càng gần đến bên bờ của vực sâu: Hư Vô. Khi sự sống có mặt trên trái đất này, cũng chính là lúc mầm xuân đă được gieo vào ḷng đất sau chuỗi thời gian dài lê thê giá rét của mùa đông với những nỗi cô độc hiu hắt và cứ thế vạn vật sinh sinh hoá hoá như âm gặp dương, như nam gặp nữ,… Cho măi đến hôm nay và mai sau. Có thể mỗi người trong chúng ta đă có một nhiệm vụ, nhưng bổn phận của mỗi con người là t́m về với cội nguồn của chính ḿnh mà gần gũi nhất là Mẹ Cha, là quê hương; nơi chôn nhau cắt rốn và sâu xa hơn nữa là gia tộc, tổ quốc,… Và trong ư nghĩa siêu h́nh, triết học là trở về cội nguồn của vạn vật, của vũ trụ. Cuối cùng trong sâu thẳm nhất của mỗi tâm hồn con người là sự trở về với chính ḿnh, về với sự vắng lặng, với tánh không uyên nguyên và diệu hữu, sau những năm tháng lên đường t́m kiếm trong nỗi niềm cô đơn của kiếp người. Điều này đă được Ngô Thừa Ân miêu tả rất tài t́nh trong tác phẩm Tây du kư, mà nỗi bật nhất là thầy tṛ Đường Tăng; qua nhân vật Tam Tạng pháp sư chính là ngài Huyền Trang trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, và những nhân vật hư cấu như Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng, … với cuộc Tây du qua vùng Hy Mă Lạp sơn để thỉnh kinh Phật.

 

Trong những chặng đường đến xứ Phật biết bao biến cố cản trở thầy tṛ Đường tăng nhưng không thể nào làm chùn bước họ, bởi nhờ chánh niệm của Tam Tạng pháp sư, nhờ thần thông kỳ ảo của Tôn Ngộ Không, và trợ lực của trời đất… Đă có người bàn về tính dự báo của Tây du kư với những thành tựu của khoa học ngày nay, qua những phép thần thông của các nhân vật như: Tôn Ngộ Không, Bát Giới, Sa Tăng, Thuận Phong Nhĩ, Thiên Lư Nhăn,… như phép nghe ngàn dặm tương ứng với sự phát triển của hệ thống mạng viễn thông, điện thoại di động hiện nay, hay phép bay trên mây trời (Cân Đẩu Vân, Đằng Vân) tương ứng với sự phát triển của hàng không như máy bay, phi thuyền, không gian, phép thuật nh́n xa ngàn dặm tương ứng với hệ thống kính thiên văn, ống nḥm… và qua h́nh ảnh Tôn Ngộ Không nhổ một chùm lông phun nhẹ một hơi đă tạo ra vô số con khỉ y hệt nhau, điều này tương ứng với sự phát triển trong Y học về nhân bản vô tính,… và trong cuộc sống hàng ngày, dù vô t́nh hay cố ư h́nh như mỗi một chúng ta đă và đang tác động lẫn nhau, chỉ mong sao chúng ta nên ảnh hưởng nhau những điều tốt đẹp... Điều đáng nói ở đây là những thành tựu khoa học lớn lao đó vẫn chưa giải quyết được vấn đề trọng đại của thế giới ngày nay, chính là vấn đề con người và những phép thuật thần thông của Tôn Ngộ Không đă không thể nào giúp con người giải thoát khỏi mọi khổ đau, vậy nên Tôn Ngộ Không đă được mang chiếc ṿng kim cô như một cái bùa hộ mệnh để khỏi rơi vào tà niệm, chỉ một tà niệm khởi lên hay khẽ dấy lên một suy nghĩ không chánh là đă tạo ra một tâm lực xấu lan truyền trong thế gian này để tạo nghiệp rồi. Đây chính là vấn đề mà có lẽ những nhà khoa học chân chính đă nhận ra, bởi khi một kẻ bất chính có quyền lực, có thần thông, có vũ khí tối tân,… sẽ là một mối đe doạ lớn cho nhân loại, điều này cũng đă được thi hào Nguyễn Du nhắc đến trong Truyện Kiều: Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài. Trong phần cuối của Tây du kư, khi Tam Tạng đối diện với vấn đề sinh tử (theo ư nghĩa của con người) tức chuẩn bị bước vào con thuyền không đáy, ông đă ngần ngại không dám nhảy xuống thuyền, v́ bản năng sợ hăi của con người đă in sâu trong tạng thức và phải nhờ Tôn Ngộ Không lúc này đă được thuần phục tâm tánh, đại diện cho ư thức bi tráng đẩy Tam Tạng xuống con thuyền bát nhă không đáy, không c̣n ranh giới của vật lư, không c̣n ư thức phân biệt và thẳng bước đi vào thế giới tự tại vượt lên trên mọi b́nh diện lư luận. Đến hồi gần kết là h́nh ảnh Tam Tạng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng đă chứng đắc Phật quả. Phải chăng đó là một thông điệp b́nh đẳng cho thấy toàn thể vạn vật trong vũ trụ này đều có Phật tính và sẽ trở thành Phật trong tương lai xa xôi ngh́n trùng. Điều này phụ thuộc vào nhận thức của mỗi con người trong suốt ḍng chảy miên man của tâm thức bi hùng giữa đất trời thênh thang ngút ngàn mây trắng.


ÂM THANH ĐẤT THẦN KINH

Sự va chạm của vật chất tạo ra những hạt âm thanh lang thang trong không gian bất tận. Tương truyền rằng, vào mỗi sáng sớm xuất hiện một ḍng âm thanh đặc quánh chuyển động chầm chậm theo ḍng Hương giang đang đắm ḿnh trong sương khói, tạo nên khung cảnh mơ hồ, hư huyễn của kiếp phù sinh, ḍng âm thanh đó chính là sự ngân nga của tiếng chuông Thiên Mụ trong không gian và măi vọng đến ngày nay qua câu ca dao: “Gió đưa cành trúc là đà,/ Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương”. Mỗi vùng không gian có mỗi âm vực khác nhau. Âm vực của xứ Huế thật độc đáo. Ngoài những âm ba được phát ra do sự sáng tạo của con người qua các nhạc cụ như: bộ ngũ tuyệt Tranh, Tỳ, Nhị, Nguyệt, Tam và Sáo, Bầu, chập choá, bộ gơ trống Huế,… các nhạc cụ trên hoà phối vào nhau bởi những ngón nghề vuốt, lướt, láy,… rất điêu luyện đă tạo nên những chuỗi hạt âm thanh mượt mà chín lịm, cùng những thang bậc có cấu trúc độc đáo, uyên bác nhưng lại rất gần gũi với người dân bản xứ qua các điệu Nam Ai, Nam B́nh hay trong Chầu văn, Ḥ Huế, Lư Huế,… được ngân nga, luyến láy từ chất giọng lạ lùng của người Huế. Và kỳ lạ hơn là sự ngưng đọng âm thanh trong không gian xứ Huế tạo thành dấu lặng sau những tiết tấu hùng hồn và bi thiết trong bản giao hưởng trác tuyệt đầy bí ẩn của thiên nhiên và con người.

 

Huế được mệnh danh là thành phố thi ca, thơ không chỉ thể hiện ở cảnh vật thiên nhiên như sông nước núi đồi, vườn tược, cây cỏ, thành quách, cung điện và con người,… mà trong thế giới âm thanh của Huế đă tiềm tàng và ẩn chứa chất thơ cuồng nhiệt.

 

Ngày cuối năm, ở thành phố khác những ḍng người tấp nập di chuyển trên mọi nẻo đường, nhưng tại xứ Huế lại rất trầm mặc, quạnh vắng. Đặc biệt vào lúc xế chiều 30 Tết bóng người trên đường phố thưa dần. Thỉnh thoảng xuất hiện cơn gió lạc lối cuốn theo nó những ǵ c̣n sót lại trên mọi nẻo đường, phố như vắng người và màu trời thật hư ảo, những bóng h́nh chuyển động như đi trong sương mơ. Về đêm mọi nhà khép lại để chờ đón sự yên b́nh sẽ đến trong những giây phút chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Những nén nhang, đèn cầy, xôi chè,… là những đồ vật đơn sơ cho lễ cúng giao thừa. Tất cả đều xảy ra trong sự yên ắng. Những ngày đầu của mùa xuân tiết trời se lạnh, lất phất những hạt mưa bụi trong ngần, mơ hồ như ánh mắt nai ngơ ngác. Những cánh Hoàng Mai nở rộ khoe hương sắc rồi quay tṛn theo vũ điệu hư thực và trải ḿnh trên mặt đất một cách nhẹ nhàng, uyển chuyển. Đó là thân pháp của Mai Hoa Quyền. Những sáng tinh mơ, các chú gà kiến gáy nối đuổi nhau như để xua tan những khí âm của đêm dài lạnh lẽo và báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Mỗi sớm vào giờ Dần (từ 3 giờ đến 5 giờ, khoảng thời gian dương thịnh trong ngày), tiếng chuông chùa lại vang vọng, du dương theo sườn núi, lan truyền trong không gian như để thức tỉnh mọi người, tạo nên một cảm giác u trầm, lắng đọng… Làn sóng âm từ tiếng chuông vỗ vào bờ tâm thức những vị tu sĩ để chuẩn bị một cuộc công phu đầu ngày. Vào độ 5 giờ sáng, chuông nhà thờ mọi phía dóng liên hồi với giai điệu vui nhộn, hối hả như thúc giục và mời gọi mọi người hăy đến với nhau trong ngày hội của t́nh yêu thương và ḷng bác ái. Khi những chú ve cất tiếng hoà ca là lúc những hàng phượng vĩ nở hoa rợp trời, không gian Huế lúc này như nóng lên bởi gam đỏ của hoa phượng và mặt nhật mùa hè. Về chiều, không gian Huế trở nên bàng bạc vọt vàng, những góc phố chợ xôn xao tiếng nói cười, những vỉa hè râm ran rặt giọng Huế. Những âm thanh đó quyện vào màu chiều hiu đ́u tạo nên cảm giác yên ắng như khi nghe những lời kinh trầm bổng nhiệm mầu.

 

Những buổi sớm mù sương, Huế êm ả đến lạ thường, đồi núi như nở hoa. Lúc này dạo bước trên đồi Thiên An đón những tia nắng ban mai ngây ngất giữa bầu không khí trong lành, xa xa những đám sương dần tan biến rồi mất hút vào không gian cuốn tôi vào “khói trời mênh mông” của Trịnh Công Sơn. Khi nắng vàng đậm dần làm óng ánh trên những chồi thông lấp loáng như đang thắp nến dưới bầu trời, khiến tôi nhớ đến câu chuyện “thông thắp nến” mà thầy giáo Trương Văn Thanh đă kể về sự ra đời nhạc phẩm Nắng thuỷ tinh. Thuở c̣n ở sư phạm Quy Nhơn, anh Thanh là trưởng nhóm nhạc Sơn-Thanh-Hải. Thầy Thanh bảo: “Ngàn cây thắp nến lên hai hàng” chính là hàng thông trên đồi Thiên An chứ không phải thông Đà Lạt mà nhiều người đă nhầm. Một buổi sáng, tôi dạo phố cùng người con gái Huế, bất chợt nàng reo lên: ”Ô! Nắng thuỷ tinh”, khiến tôi sững sờ về sự trong veo của nắng Huế, tôi nghĩ rằng chỉ những tâm hồn trong trẻo, ngây ngô mới cảm được “Nắng thuỷ tinh”. Thầy Thanh là người chơi vĩ cầm rất ru hồn, có đêm thầy đă dắt mọi người vào cơi “Vĩ cầm thanh” khi …Áp má vào kỷ niệm /Lăo nghệ sĩ nâng đàn/…Vĩ lướt trên ngỡ ngàng/Chùm âm thanh chín lịm/…Nhạc ngập tràn sóng kích/…Cơi tiên giáp cơi trần/Âm thanh dang cánh rộng/Trôi về cuối sông Ngân… (1)

 

Theo giáo sư Nguyễn Đức Mai, chất nhạc ngũ cung Huế đi vào trong nhạc của họ Trịnh mà chính anh cũng không hay biết, như bài Nối ṿng tay lớn viết theo điệu Chầu văn Huế, bài Ngẫu nhiên mang tính triết lư Phật giáo sâu sắc viết theo nhạc ngũ cung Huế và cho đến khi vị giáo sư cho biết và chứng minh cụ thể th́ Trịnh Công Sơn mới hay.

 

Không có đâu em nầy, không có cái chết đầu tiên

(F A G F - D C F A A A F G, Xàng Cống Xê Xàng-Xự Họ Xàng Cống Cống Cống Xàng Xê)

Và có đâu bao giờ?  Đâu có cái chết sau cùng?

(F A G F - D C F A A A G F, Xàng Cống Xê Xàng-Xự Họ Xàng Cống Cống Cống Xê Xàng)

Tự ḿnh biết riêng ḿnh

(C F A- G F D-C, Họ Xàng Cống-Xê Xàng Xự-Họ)
Và ta biết riêng ta

(C F A G - F F, Họ Xàng Cống Xê-Xàng Xàng)

Trích Ngẫu nhiên, Trịnh Công Sơn.

 

Mùa mưa xứ Huế làm cho không gian trở trên cô quạnh, điệu mưa dội vào ḷng người cảm thức nao nao buồn lay lắt như những lúc nghe Tự t́nh khúc của Trịnh. Sau cơn mưa giông, khi đất trời chuyển màu chạng vạng, từ những ao hồ, bờ cỏ quanh phố thị rộ lên tấu khúc của những loài côn trùng đang “Hoà âm điền dă”. Ôi, thế giới âm thanh xứ Huế thật lạ kỳ, cứ lẩn quất và tản mác khắp nơi, tuy vô h́nh vô ảnh nhưng rất diệu hữu, mỗi khi đă vang lên giữa không trung th́ sẽ thức tĩnh ḷng người, sẽ măi ngân vọng, khắc ghi trong tâm tưởng chúng ta. Chính điều này mà Nhạc cung đ́nh Huế và những ẩn thanh khác vẫn c̣n đồng vọng đến hôm nay và sẽ măi lưu truyền đến mai sau.

 

Đoạn kết bản hợp tấu của xứ Huế không phải Nhạc cung đ́nh, Nam Ai, Nam B́nh hay Cổ bản, Lưu thuỷ, Kim tiền,… mà một dấu lặng đến rợn người, khi màn đêm dày đặc, xứ Huế như ch́m vào giấc sâu với cơn mộng lạ lùng của đời người, vật chất chẳng muốn va chạm nhau nữa, tất cả như tịnh, như tịch... và nơi miền quê xa xôi, hẻo lánh của vô thức văng vẳng điệu ḥ nện, ḥ khoan năo nề cung oán nhưng lại đầm ấm t́nh người. Ôi! Đêm Huế lặng im đến kinh hoàng, lặng câm như vệt t́nh nhức nhối khảm vào nơi sâu kín của cơi hồn liêu trai, đơn độc và im ỉm như đời sống thầm lặng của vị ẩn sĩ bặt thinh với chính ḿnh rồi bỗng nhiên vút lên thinh không những âm hưởng bi hùng tan vỡ giữa hư không bạt ngàn mây trắng.


 

VỌNG ÂM CHIỀU

Đă lâu lắm, tôi quên mất thói quen lang thang quanh phố thị cho đến khi chiều xuống, rồi kiếm một góc phố ngồi, nh́n trời, nh́n sông, nh́n người, nh́n ḿnh... đang trôi như một ḍng biến dịch...

Hôm nay, sau chuyến bộ hành quanh thị tứ, tôi đến một gốc bồ đề  già nua có nhiều sợi rễ kết nhau thành từng chùm, rũ xuống đầy ma mị như những ḍng tóc huyền hoặc của các thiếu phụ xoă dài bên ḍng sông,  những cành cây đầy lá xanh h́nh trái tim vươn rộng như những đường gân xanh trên phần thân thể của người đàn ông từng trải, những cành lá toả bóng râm cả một vùng phố. Tôi ngồi thu ḿnh trong góc khuất, thả cho ư nghĩ tự do trôi, như những chiếc lá rụng đang bồng bềnh trên ḍng sông Hương trong xanh đến độ người đứng trên bờ có thể nh́n rơ mồn một những hoạt động tận đáy ḍng sông.

 

Tôi ch́m vào kư ức xa xăm, mặc cho bao nhiêu âm điệu của chiều ùa vào  các giác quan, nào là tiếng xôn xao từ một phố chợ, tiếng ngược xuôi của những người phu xe, những tiếng rồ ga của xe gắn máy, tiếng ơi ới của những người bán hàng gọi xe, gọi đ̣ một cách nôn nao để khỏi phải trể xe, trể đ̣, v.v... Thỉnh thoảng văng vẳng những nhạc khúc tự t́nh của nhạc sĩ  Trịnh Công Sơn qua giọng của ca sĩ Khánh Ly, và tiếng ḷng tôi đang nao nao đồng vọng về một âm thanh thật xa xưa mà bây giờ h́nh như chỉ c̣n trong kư ức của phố thị, đó là tiếng vọng ngân nga, trầm mặc của hồi chuông vào xế chiều. Tất cả những âm thanh đó hoà vào nhau làm thành một tấu khúc mang đầy âm hưởng của xứ Huế vừa sâu lắng, cổ kính, uy nghi vừa huyên náo, vơ vàng... chuẩn bị cho phút giây tàn tạ của một ngày.

 

Hoàng hôn buông chầm chậm như đang hôn nhẹ lên thịt da phố thị, không gian trở nên om lại và lung linh, huyền ảo bởi gam tím pha lẫn màu xanh chàm đặc trưng của Cố đô lúc hoàng hôn. Có lẽ, sắc màu này được tạo do sự hoà trộn bởi màu của ḍng sông, đỉnh núi, cây xanh và sắc trời. Tôi vẫn ngồi bên tách cafe, ngồi như ngóng đợi một niệm khúc nào đó mà  đúng ra đến giờ này đă xuất hiện. Như biện minh cho niềm hy vọng, tôi thầm nghĩ có thể do một trở ngại nào đó, hoặc có một sự thay đổi, mà ḿnh chưa rơ nguyên nhân và tôi tiếp tục chờ đợi...

 

Kinh đô Huế là nơi hội tụ của nhiều nền văn hoá, tôn giáo. Nên Huế là một thành phố có những âm sắc rất đặc trưng, đặc biệt là hệ thống ngũ âm, ngũ sắc đă đi vào trong đời sống văn hoá và tôn giáo của con người xứ Huế. Có lẽ do hồn thiêng của sông núi và sự khắc nghiệt của thời tiết, rồi những ảnh hưởng của các nền văn hoá, tôn giáo đă h́nh thành nên những tính cách của con người xứ Huế mà không ở đâu có được cho dù chỉ là pha pha, mà đặc biệt nhất là giọng nói. Măi ngồi chờ đợi vọng âm chiều mà đến bây giờ cũng chưa nghe được,  tôi quyết định rời góc phố mà ḷng quạnh quẽ vô cùng, và tiếp tục lẩn thẩn trên các con phố, những h́nh ảnh mập mờ thoáng hiện, thoáng mất qua tâm tưởng tôi, những âm ba phát ra từ sự rung động khi cảm được sắc màu  ảo diệu của thiên nhiên, hay khi thể nhập vào những bức tranh tuyệt tác của các hoạ sĩ tài danh. Những âm sắc đó tạo cho người xem một khung cảnh sống động hơn.    

 

Vừa đi vừa nghĩ về sự chuyển động, sự trôi chảy của ḍng sông và về những âm sắc trong cuộc sống này, rồi trong đầu nảy ra ư nghĩ: Phải chăng có những âm thanh phát ra từ những bức tranh là do sự rung động của người xem! Hoặc có thể khi nghe nhạc cổ điển như bài Hồ Thiên Nga của nhạc sĩ thiên tài T.Chaikovsky th́ người nghe có thể h́nh dung ra được bức tranh mà tác giả muốn vẽ nên bằng những chuỗi hạt âm thanh, tôi cảm thấy bản nhạc đó như đă tạo nên một cấu trúc đặc biệt cho hệ thống những ḍng âm thanh và nó tác động đến người nghe để tạo nên những ảo ảnh cho người nghe. Tôi hiểu rằng để có được điều đó chỉ có những thiên tài mới làm được và người nghe nhạc, người xem tranh tất nhiên phải có một tri thức thiên phú. Cũng như hệ thống ngũ âm, ngũ sắc không phải tự nhưng mà h́nh thành và đi vào đời sống văn hoá, tâm linh của người dân Kinh thành Huế…

 

Trời đang dần tối, tôi dừng chân trên cầu Trường Tiền hóng gió, chợt nh́n xuống ḍng sông Hương tối om om mà liên tưởng đến những phận người giờ này c̣n lênh đênh ..., xa xa vẳng lên giọng ḥ ai oán. Những cơn gió mang mùi hương quyến rũ của ḍng sông đến thoa dịu nỗi đau vừa thoáng hiện trong ḷng tôi và làm hồn tôi miên man trong niềm rung cảm diệu vợi. Bỗng nhiên tiếng chuông từ xa xăm văng vẳng vọng về, tiếng chuông ngân dài, du dương, trầm mặc, và xoáy vào sâu thẳm cơi thâm u của kiếp người để cuối cùng chỉ c̣n ḍng âm “OM ... OM ... OM...” ngân vọng, bay lân la theo ḍng sông để đi vào mọi ngơ ngách của phố thị huyên náo và đến với mỗi nhà, mỗi người làm cho mỗi gia đ́nh trở nên ấm cúng, và ḷng người  lắng dịu lại khi đang vội vă vật lộn với cuộc đời để mưu sinh, rồi có thể tiếng chuông ngân đă làm dừng bước  những con người đang răm rắp một toan tính đen tối để đạt được lợi danh cho riêng bản thân ḿnh mà quên đi bè bạn, dân tộc và cộng đồng. Nhưng tiếc rằng tiếng chuông hôm nay chỉ dành riêng cho sự trông chờ của ḿnh tôi v́ những người ở quanh tôi hầu như không nghe thấy, ḷng tôi chợt thấy buồn vô tận, tôi nghĩ rằng tiếng chuông đó chỉ là một ảo thanh do kư ức và sự rung động tâm hồn tạo nên. Phải chăng tiếng chuông chùa đă trở thành một thức nghe của người dân xứ Huế từ lúc nào mà không ai hay biết. Vậy mà không biết v́ một lư do nào mà vọng âm của tiếng chuông chùa vào giờ phút chạng vạng dạo này không c̣n ngân nga, đồng vọng giữa không gian của thành phố Huế đầy thơ mộng và huyền ảo.


VƯỜN XƯA VỸ DẠ

“Đêm nay mưa suốt ở Vỹ Dạ

Mưa sau hè chuối tí tách

Mưa chạy suốt con đường làng

Mưa âm vang ngoài ruộng lúa”(1)

            (Thái Ngọc San)

 

Đó là một đêm mưa ở Vỹ Dạ cách đây 30 năm. Hôm nay cũng trong căn nhà mà ngày xưa Thái Ngọc San đă từng trú ngụ và ngồi ngắm mưa rơi. Mưa bây giờ cũng như mưa ngày xưa, cơn mưa nào ở cái xứ Huế này cũng mang mang buồn và gợi lên một nỗi hoài niệm. Có điều trong cơn mưa chiều nay không có anh San ngồi ngắm mưa nữa. Anh đă tan vào mưa cho ướt mềm những trái tim đầy nhiệt huyết một thời oanh liệt. Cây Vú sữa vẫn c̣n đó, con đường làng đă bê tông hoá, nhưng ruộng lúa đă thành những ngôi nhà lầu, những quán nhậu,... có chăng mưa âm vang trên những con đường chưa đặt tên. Chỉ 30 năm. Một nền văn minh nông nghiệp của làng Vỹ Dạ đă bị nền công nghiệp vôi vữa xoá dần dấu vết. Nhưng h́nh ảnh “Người mẹ già gánh cháo ngả nghiêng/ Bùn lầy trơn trượt”(2) đến bây giờ vẫn c̣n nhiều trên các nẻo đường xứ Huế. Những người mẹ vẫn suốt một đời cơ cực. Và cách đây hơn 30 năm h́nh ảnh người mẹ cũng là tia hy vọng với người con Nguyễn Đính. V́ thế anh phải sống để trở về “úp mặt trong áo mẹ”(3) sau mười năm đi làm cách mạng, để người mẹ già bán cháo phải “Giả điên / Đợi thằng con đi “Việt cộng”.../ Đứa con trở về úp mặt trong áo mẹ/ Người mẹ già/ Mừng rơi nước mắt/ Như mưa.”(4). Cũng nơi ngôi nhà mái ngói cũ rêu phong này, dưới gốc Vú sữa già giữa khu vườn tạp anh em thỉnh thoảng vẫn nhậu và hát Bolero... Thế hệ các anh Quỳnh, Thanh, Đính, Phương, Kế, Ngẫu, Dũng, Ngọc, Thuận, Tân Dân, San... đa số là thầy giáo, thời đó mỗi người có một cách nh́n, một hướng đi nhưng các anh vẫn xem nhau là bằng hữu như những câu thơ trong bài Về những con đường khô cây của Thái Ngọc San: “Tôi vẫn nhớ bạn bè/ Dù mỗi thằng đi một hướng/ Và tôi vẫn tin rằng/ Không có sự thù hằng nào giết được kỷ niệm”. Rồi các anh Hoà, Cường, Quang,... những anh em công nhân, anh em xe thồ, xích lô, nhà giáo, nhà báo,... biết bao thế hệ, biết bao con người đă đến ngôi nhà này. Trong đó không ít người đến v́ công việc, không ít người đến v́ ḷng ngưỡng mộ và phần c̣n lại là đến “vườn Đính” với cái t́nh, do sự giao cảm từ thiên thu. Đă gần 15 năm nay, anh Đính thường vẽ Bồ Đề Đạt Ma treo đầy nhà, treo không hết th́ cuộn lại cất trong tủ. Người nào cần tranh, anh thấy thích là tặng ngay, kể cả những trẻ con trong xóm Vỹ Dạ cũng được anh tặng Đạt Ma sư tổ. Chất liệu để vẽ vị tổ sư Thiền tông là mực xạ, mặt trái của tờ lịch to, có khi anh vẽ bằng bột màu do anh em tặng, hay vẽ trên giấy dó, trên những tấm gỗ thông, tấm phao,... tranh tổ sư Đạt Ma được anh Đính thể hiện qua đôi mắt bi hùng nh́n xoáy vào trong tâm khảm kiếp người. Đă có rất nhiều người muốn “này” tranh Đạt Ma nhưng anh không bán, anh nói ”bán chi mà tội rứa”. Và anh tính chi phí để vẽ xong một bức tranh Đạt Ma chừng hơn một ngàn đồng. Ngoài vẽ Đạt Ma, anh vẽ vua hề Charlie Chaplin, Lăo Tử, Thích Ca,...  anh c̣n vẽ cả bộ Bài Tới với những sắc màu dân gian. Thời gian gần đây anh vẽ Đạt Ma sư tổ nhưng chỉ thấy cái lưng và một khoảng trống, h́nh tướng hoà vào mưa, hoà vào sông, vào trăng, vào cỏ cây muôn vật, hoà vào đất trời,... tất cả đều tan biến, nơi nào cũng tàng ẩn h́nh bóng Đạt Ma thinh lặng, mắt trừng trừng nh́n “Thạch Tâm”. Chiều chiều tôi lang thang qua Đập Đá, phía bên Hương giang nước đục ngầu, bên ḍng sông Như Ư nước trong xanh, cái màu xanh kỳ vọng gây phản cảm cho Hương giang như hai mặt của cuộc đời, như bóng đêm và ánh sáng, như cái ác và cái thiện, như con người và lũ quỷ... Qua khỏi Đập Đá xuôi về miền Vỹ Dạ, nơi c̣n lại những ngôi nhà vườn thơ mộng, dù “nắng hàng cau” không c̣n nữa, dù những ngôi vườn không c̣n “xanh như ngọc nữa” nhưng vẫn c̣n đó h́nh bóng những con người với tâm thức của xứ sở văn hoá, đó là những con người sống trọn vẹn một đời không hổ thẹn với trời đất. Anh Đính với những bài thơ viết về Mạ, về quê hương đất nước trong Bài thơ của một người yêu nước ḿnh: “...Mẹ thương con nên cách trở sông đ̣/ Hàng gánh nặng phải qua cầu xuống dốc/ Đêm nào mẹ cũng khóc/ Đêm nào mẹ cũng khấn thầm/ Mong con khôn lớn cất mặt với đời/ Tôi yêu đất nước này khôn nguôi/ Tôi yêu mẹ tôi áo rách/ Chẳng khi nào nhớ tuổi ḿnh bao nhiêu./...Tôi yêu đất nước này lầm than/ Mẹ đốt củi trên rừng cha làm cá ngoài biển/ Ăn rau ŕu rau éo rau trai/ Nuôi lớn người từ ngày mở đất/ Bốn ngàn năm nằm gai nếm mật/ Một tấc ḷng cũng trứng Âu Cơ/ Một tiếng nói cũng đầy hồn Thánh Gióng./...Tôi yêu đất nước này chân thật/ Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi/ Như yêu em nụ hôn ngọt trên môi/ Và yêu tôi đă biết làm người/ Cứ trông đất nước ḿnh thống nhất”. Rồi anh viết về đồng đội đă khuất xa như trong bài Đồng Chí: ”Mi đă chết thật rồi/ Như Nguyễn Thiết Lê Minh Tường Phạm Bá Thuận Chế Công Việt Trần Văn Nam Nguyễn Thị Nga/...Bây giờ là tháng sáu/ tau vừa qua sông Hai Nhánh/ U-ti-ti bắn rốc két ngang trên đầu/ tau muốn nằm trong bụi lách cháy khô này ngó trời một lúc/...Sang bên kia khe Đầy hai đưa ăn một vắt cơm bằng nắm tay với nước lá bạch đàn hoà muối sống.../trần vàng sao/ mi cười tiếng thật to/ mi chết thật rồi sao ”, trong bài Người đàn ông 43 tuổi nói về ḿnh khi ao ước được say rượu để quên và được thấy nhiều tiền hơn: “hai mắt tôi mở to/ đầu tôi cúi thấp/ miệng tôi há ra/ những lá khoai nhám và rít mắc vài hột cơm dồn cứng chật cuống họng/ nói thật, lúc này tôi muốn được say rượu/ hoạ may thấy một đồng thành ba bốn đồng...” Tôi h́nh dung con người của anh Đính thuở thiếu thời rất vất vả qua bài Đứa trẻ thả diều trên cánh đồng và vắt cơm cúng mả mới có câu: “Tôi ăn cả tàn hương vào bụng/ Liệu ai ở nhà tôi chết có được một nắm cơm to trắng thế này trên mả không? Bây giờ ngó con người anh Đính thật b́nh dị, mấy ai biết đă có một thời anh yêu đương rất lăng mạn: tôi hôn em / như em hôn tôi/ lúc đó nh́n chiếc lá rụng ngoài sân/ tôi nói những cuộc t́nh duyên cay đắng muộn màng/ và trời mưa tháng mười/ tôi hẹn ḥ em ở quán nước bên kia cầu An Cựu/ khuôn mặt em tái đi/ tôi ngồi co ro ướt át/ những ngón tay em động đậy trên bàn/ tôi hút thuốc nh́n em/ chiếc xe hàng dừng lại không có người xuống/ Em cười thành tiếng chỉ cho tôi thấy và cây mù trong núi xa/ ...tôi làm người t́nh ngu ngơ đă đành/ nên yêu em dại dột/ em đi rồi tôi c̣n đứng mỏi chân/ ướt át cây lá, trong bài Thuở ấy mưa gió xa xôi. Và trong những câu“hôm qua tôi lên phố/ rất đông người/ đứng chung quanh một đứa bé bảy tám tuổi tàn tật làm hề/ nhiều người vỗ tay cười/ một ông già khom lưng lượm những đồng bạc kên dưới đấtđă phần nào nói lên nỗi ḷng anh.

 

Một buổi sáng tôi về Vỹ Dạ, vô nhà Thiện thấy vợ chồng hắn đang ngồi nhậu nhưng trên mặt hiện nét âu lo..., rồi nó chợt nhắc đến anh Tôn Phong, nhắc Phan Đạo, Thiên Thu,... tôi cùng Thiện ghé Dương Thành Vũ rủ nhau thăm vườn Đinh Thu. Xế chiều, tôi ghé thăm vườn nhà anh Đính, ngồi nghe chim hót, ngó lá bay giữa trời xanh mà bỗng thèm làm kiếp lá. Trong những tiếng chim hót, có tiếng chim Cu gáy sao mà buồn quá, gợi nên trong tôi cảm giác kinh hăi, cô quạnh của phận người.

 

May mà hôm đó, anh Hồ Đăng Kế, anh Trương Văn Thanh, anh Phương vơ, Panh đến cùng ngồi dưới gốc cây Vú sữa “vườn Đính” nhậu và hát Bolero xoá tan nỗi tiêu điều trong tôi, rồi ngẫu hứng anh Kế mời anh em về nhà uống rượu, nghe anh Kế chơi Piano, anh Thanh kéo Violin, anh Phương, anh Đính hát Bolero, tôi múa may, Panh vỗ tay tưng bừng. Hôm đó về, hứng khởi tôi làm bài thơ Chiều Vỹ Dạ:

 

Chiều về thăm Vỹ Dạ

Nhớ khu vườn rêu xanh

Mắt xưa nh́n xa ngại

Chân bước đi không đành.

 

Chiều đưa về Vỹ Dạ

Mây mịt mùng trời cao

Buồn từ ngày vắng bạn

Ghế bàn bỗng hư hao.

 

Về thăm chiều Vỹ Dạ

Vườn mưa khế rụng đầy

Mạ nh́n thằng con dại

Tuổi bạc ngoài năm hai.

 

Chiều chiều về Vỹ Dạ

Nghe chim Cu gáy buồn

Mạt thời ma quỷ lộng

Dẫn xa phía cội nguồn.

 

Chiều ngang qua Vỹ Dạ

Nhớ anh thuở can trường

Gió thơm mùi rơm rạ

Em quanh những nẻo đường.

 

Chừ  về thăm thôn Vỹ

Ngắm người thời Can Tương

Chiều về không thôn Vỹ

Biết ai c̣n yêu thương?

 

 

TIẾNG GÀ GÁY

TRONG TÂM THỨC NGƯỜI VIỆT

Trong những con vật biết gáy có lẽ con gà là gần gũi với con người nhất và trong 12 con giáp th́ gà (Dậu) đứng ở vị trí số 10. Âm hưởng tiếng gáy của những chú gà trống với bộ lông đặc sắc, cái mồng đỏ hoe, tươi roi rói đă dội vào cảm thức chúng ta nỗi xao xuyến, bồi hồi, có khi phấn khích, vui nhộn, lúc th́ quặn thắt, đau xót và thỉnh thoảng lại gợi lên nỗi niềm nhung nhớ vời vợi. Từ thời xa xưa khi con người chưa sáng chế ra đồng hồ, có lẽ tiếng gà gáy đă góp phần vào việc báo thức cho người nông dân thức dậy chuẩn bị công việc đồng áng.

 

Không giống những con vật biết gáy khác, tiếng gà gáy trong ngày có thể chia thành ba thời: sáng, trưa và xế chiều. Thông thường, buổi sáng bắt đầu từ giờ Dần (từ 3 giờ đến 5 giờ) những chú gà bắt đầu gáy, khi đă có một tiếng gáy cất lên phá vỡ bầu không gian im ắng th́ sau chốc lát sẽ có những tiếng gáy nối đuôi liên hồi của những chú gà hàng xóm. Tuy mỗi chú gà có một giọng gáy khác nhau; con th́ trong thanh, tươi tắn, con th́ khàn khàn đục, có chú gà giọng ngân nga quyến luyến, chú gà khác th́ tiếng gáy găy gọn, cụt lủn... nhưng khi xướng lên th́ tạo thành khúc hợp tấu đón chào b́nh minh. Buổi trưa gà thường gáy vào giờ Ngọ (từ 11 giờ đến 13 giờ) và buổi chiều những chú gà thường gáy vào giờ Dậu (từ 17 giờ đến 19 giờ). Có lẽ những chú gà trống là con vật gáy khoẻ và trữ t́nh nhất trong những loài biết gáy.

 

Những chú gà trống trưởng thành hầu như gáy suốt bốn mùa. Mùa xuân tiếng gà gáy nghe tươi tắn, hớn hở, mùa hạ nghe khan khảng, ray rứt c̣n mùa thu nghe kiêu bạc, mơ hồ và mùa đông th́ gây cảm giác hiu đ́u. Ba thời sáng, trưa và chạng vạng chiều tiếng gáy cũng có những âm hưởng khác nhau. Buổi sáng tiếng gà gáy thường hối hả như báo hiệu ngày mới bắt đầu, buổi trưa th́ xa xôi, quạnh vắng và buổi chiều th́ gây cho người nghe cảm giác nao ḷng…

 

Ngoài những hiệu ứng tâm lư khi nghe tiếng gà gáy, vào đầu xuân người ta thường tổ chức hội gà đá để mọi người xem. Gà đá ở những trường gà chuyên nghiệp là những chú gà cồ, thân h́nh cao to, lực lưỡng, đôi chân rắn chắc, cựa nhọn, cổ cao ngồng, đỏ ong ong và rất ít lông. Những chú gà chiến có thần thái như những chiến binh oai hùng được chăm sóc chu đáo, “om” rất kỹ lưỡng. C̣n ở các băi đá nghiệp dư th́ đủ loại gà, miễn sao ngang chạng là được cho thử sức chiến đấu. Có khi nơi những băi cỏ ven đường, hoặc ngẫu nhiên hai chú gà gặp nhau và v́ lư do nào đó thế là cuộc chiến bắt đầu. Có những con gà bại trận, mặt mày thê thảm sau cuộc chiến, khiếp quá mất luôn cả tiếng gáy về sau này, c̣n những chú gà chiến thắng, mặc dù trên mồng và mặt đầy máu và vết thương nhưng vẫn vỗ cánh tự hào rồi trương cổ cất tiếng gáy tràn đầy niềm kiêu hănh.

 

Vào ngày mồng ba Tết hầu hết mọi nhà ở Huế thường làm thịt một chú gà trống đă trưởng thành, nhưng phải là gà kiến để làm lễ cúng đưa, nhằm tiễn ông bà ra đi sau những ngày xuân về sum họp với con cháu. Ngoài ra, ở Huế mỗi năm có 2 tháng để cúng đất là tháng 2 hoặc tháng 8 Âm lịch, trong lễ cúng đất ngoài những lễ vật độc đáo như cua, trứng vịt luộc, rau muống luộc mắm nêm,… c̣n có luộc một chú gà kiến tuổi đă trưởng thành và chú gà đó phải được chọn lựa kỹ lưỡng, đặc biệt đôi chân phải “đẹp”. Sau khi cúng đất xong, theo tục lệ cặp chân gà được đem đi nhờ thầy xem bói gị để biết thời vận trong gia đ́nh, hoặc được đem treo ở chàng bếp cho khô.

Nhớ thời c̣n thơ trẻ, tôi thường chơi với những chú gà con nho nhỏ với bộ lông vàng mà mượt. Tiếng kêu chiêm chiếp và đôi mắt tṛn xoe ngơ ngác của những chú gà con giữa thế giới muôn vàn h́nh sắc và âm thanh đă giúp tôi kéo dài tuổi ngây thơ. Những năm học phổ thông, cả lớp góp tiền mua gà choi choi gửi nhà đứa nào có vườn để nuôi, thỉnh thoảng cả lớp đến ngắm nghía, chăm sóc, cho ăn và vui đùa...

 

H́nh ảnh gà mẹ dẫn đàn gà con nhỏ xíu đi kiếm ăn khiến tôi liên tưởng đến truyền thuyết tổ mẫu Âu Cơ đẻ trăm trứng nở trăm con. Và có lẽ từ xa xưa người Việt đă rất quư trọng và gần gũi với những con gà, bởi các di chỉ khảo cổ trên trống đồng Hoàng Hạ cũng có khắc h́nh những con gà. Phải chăng, chỉ những xứ sở của nền văn minh lúa nước mới có được sự gắn bó mật thiết giữa những chú gà và người nông dân? Tiếng gà gáy ngoài việc báo thức c̣n gửi gắm cho chúng ta cảm giác thanh b́nh của ngày mùa. Ở nước Pháp, chú gà trống Gaulois là một biểu tượng cao quư và may mắn. Trong một vài trận đá bóng có đội Pháp chúng ta lại thấy xuất hiện những chú gà trống giữa sân cỏ hoặc trên tay các cổ động viên nhiệt cuồng của đội Pháp.

Gà ngoài việc cung cấp thực phẩm thịt, trứng và chia sẽ vui buồn với con người, th́ những cô gà mẹ c̣n tham gia ấp trứng cho những cô vịt mẹ, rồi khi nở ra, những con vịt con cũng theo tiếng gọi của gà mẹ một thời gian rồi mới được tách riêng. Thời gian ấp trứng gà trong ṿng 21 ngày, nhưng với trứng vịt th́ khoảng chừng 28 ngày. Trong các loài gà trên thế giới có lẽ thịt của gà kiến Việt Nam là ngon nhất và ngào ngạt hương vị đồng quê.

 

Tiếng gà gáy không những tác động đến tâm thức người Việt mà c̣n đi vào trong âm nhạc và thi ca, như trong ca khúc Lời thiên thu gọi của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có câu: “Về trên phố cao nguyên ngồi/ Tiếng gà trưa gáy khan bên đồi/ Chợt như phố kia không người/ C̣n lại tôi bước hoài”, đúng là tiếng gà trưa, một tiếng gáy khan lạc giọng bên đồi vắng nghe sao mà hiu quạnh, ră rời đă khiến cơi hồn cô độc của nhạc sĩ lạc loài giữa phố lạ hoang vắng. Hay trong bài Nhớ tuổi thơ của Chế Lan Viên có câu: “Nhớ chao ôi nhớ! Trời xanh thế! / Lại dồn thêm tiếng gáy trưa! ”. Lại một tiếng gáy trưa đă khiến cơi hồn thi sĩ gia tăng nỗi niềm xao xuyến, ray rứt… Và trong dân gian tiếng gà gáy rất gần gũi với người nông dân:”Lao xao gà gáy rạng ngày/ Vai vác cái cày, tay dắt con trâu”  hay trong khía cạnh thời tiết có câu “Chớp đông nhay nháy, gà gáy th́ mưa”. Không hiểu v́ sao âm hưởng tiếng gà gáy lại quan hệ mật thiết với con người và thiên nhiên vậy? Nơi xứ Huế thơ mộng đă có câu ca dao mang đậm âm hưởng của Phật giáo: “Gió đưa cành trúc la đà / Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương”. Phải chăng tiếng chuông và tiếng gà gáy đă có sự liên hệ khăng khít khiến trong dân gian đă lưu truyền những câu ca dao trữ t́nh như vậy? Tiếng chuông chùa canh ba thức tỉnh những vị tu sĩ dậy công phu, tiếng gà gáy canh ba đánh thức những người nông dân dậy chuẩn bị công việc đồng áng. Ô hay! Tiếng chuông u minh vào giờ chạng vạng chiều và tiếng gà gáy buổi xế chiều nghe sao mà xa xăm như ngh́n trùng… Tiếng chuông và tiếng gà gáy hoà phối nhịp nhàng, khoan thai, quyện vào nhau như âm dương rồi lan toả theo tiết nhịp du dương của gió nghe sao mà mơ hồ như có như không, như mộng như thật, nghe rất gần gũi mà lại quá xa xôi… Có lẽ trong mỗi người Việt đă ẩn tàng những âm hưởng của tiếng gà gáy, tiếng chuông chùa tận trong sâu thẳm cơi ḷng. Bỗng nhiên một ngày đại hoạ ùa đến cho loài gia cầm, bệnh dịch đă giết chết hàng triệu con gà từ bé đến lớn, khiến tôi lo lắng rồi đây sẽ không c̣n nghe tiếng gáy của những chú gà trống nữa. Ôi gà ơi! Mắc cái nghiệp ǵ mà nặng thế? Để rồi phải chết tập thể! Nhưng đại hoạ đó không khiếp đảm bằng sự thờ ơ, lănh đạm, vô cảm của con người trước tiếng gà gáy… để rồi tiếng gà phải trốn vào cổ tích: “Thành phố/ không nuôi nổi một tiếng gà/ bỏ vầng trăng đi lạc/…Thành phố đói trăng/ đẩy tiếng gà vào cổ tích” trong bài Lối Về của Tôn Phong. Rồi một ngày bất chợt đâu đó trong không gian bỗng ngân vọng tiết điệu đầm ấm, ngây ngất t́nh người khiến xốn xang những mảnh hồn hoài cổ và gợi lên trong mỗi chúng ta cảm giác vời vợi nỗi nhớ quê hương và một hôm trên đường về, chợt nghe một tiếng gà gáy dằng dặc, hư ảo,… khiến cơi hồn nao nao đồng vọng về miền quê mơ mộng, có những khuôn mặt chất phác, hồn nhiên mà cảm tác nên những vần thơ:“Tôi về trong lặng im/  Nghe tiếng gà xưa gáy/ Sầu muộn giăng mắt tím/ Vỡ khung trời hư vô”.


NỖI CÔ ĐỘC CỦA TIẾNG THƠ

Khi nghe tiếng chào đời của những bé sơ sinh và nghĩ về sự có mặt của chúng ta trên hành tinh này, qua phép quy nạp tôi nghĩ rằng có lẽ mọi người đều chào đời bằng một âm hưởng thơ ngây mà măi đến tận sau này người ta gọi những âm thanh đó là tiếng khóc. Đúng vậy, tiếng khóc đầu đời cũng chính là tín hiệu báo tin cho người khác biết đứa bé đă tồn tại trong thế gian này “Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người (1) . Nếu đứa bé nào không may mắn không cất lên tiếng khóc chào đời có lẽ là do số phận! Kiếp người ? Tại sao phải mang nặng và tại sao lại là tin buồn? Những câu hỏi được nêu lên chính là sự ngạc nhiên của mỗi con người trước cuộc đời và khi câu hỏi xuất hiện cũng là thời khắc tiếng THƠ xa lánh con người. V́ vậy, mỗi một chúng ta phải có nhiệm vụ t́m lại tiếng THƠ đang mất dần trong thế giới ngập tràn vô số câu hỏi này. Chúng ta hăy suy nghiệm ngược ḍng thời gian, trở về thời kỳ sơ khai của loài người, về với những núi rừng, những hang đá và những đại dương bao la,… suy nghiệm theo một quy định logic của lư trí, từ thuở tổ tiên của chúng ta đang tồn tại trong những kư hiệu và biểu tượng, họ réo gọi nhau từ những cảm xúc sâu kín, cô đơn... ẩn náu trong những con tim ngập tràn bi thương. Cảm xúc đó được biểu diễn trong thiên nhiên bởi những ḍng sóng âm lan truyền từ nơi này đến nơi khác, cứ thế nối tiếp nhau trôi vào bất tận…

 

Phải chăng cảm xúc của con người được diễn tả bởi âm thanh đă ghi vào trong thế giới này những cung bậc trầm bổng, hùng hồn, liêu trai và lăng mạn… mỗi trạng thái cảm xúc đều có một cung bậc thanh âm tương ứng và đó chính là tiếng THƠ.

 

Tiếng THƠ là diệu âm từ cơi miền u linh thăm thẳm trong mỗi đời người lưu lạc giữa đêm dài ớn lạnh, chỉ có diệu âm mới dẫn dắt chúng ta về cố hương : “ Hỏi rằng người ở quê đâu ? Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà (2). C̣n lại tất cả các âm thanh khác trên thế gian này chỉ là tạp âm làm cho mỗi chúng ta ngày càng rời xa quê nhà. “Hỏi tên, rằng biển xanh dâu / Hỏi quê, rằng mộng ban đầu đă xa” (3) .

 

Ngày nay, trong thời đại nguyên tử, nhân bản vô tính, thông tin điện tử, khám phá chinh phục không gian,… con người đă nhầm lẫn tiếng THƠ với những âm thanh khác... Không hẳn bất kỳ một bài thơ nào được xướng lên cũng trở thành tiếng THƠ. Tiếng THƠ vốn dĩ đă tồn tại từ vô thuỷ, từ thuở mặt đất c̣n hoang vu, vắng lặng, từ cái ngày tiếng nói và chữ viết chưa xuất hiện trên trần gian này và tiếng THƠ đă song hành cùng với cuộc phiêu du lăng đăng của loài người vào thế giới điệp điệp trùng trùng. Những thành tựu trong lĩnh vực khoa học của nhân loại đă góp phần cơ giới hoá con người và lấy mất sự tồn tại của tiếng THƠ trên mặt đất này. May mắn thay, vẫn c̣n những cánh thơ lồng lộng giữa bầu trời mênh mông bạt ngàn mây trắng. Xin điểm qua tên những con người đă làm hồi sinh tiếng THƠ trên thế giới này, Việt Nam có những thi sĩ : Nguyễn Du, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Tản Đà, Bùi Giáng,… hay những hồn thơ mênh mang lai láng ở Trung Quốc như: Lư Bạch, Tô Đông Pha,… và sang vùng đất của nền cơ giới hiện đại châu Âu có những chàng thơ: Rimbaud, Hoelderlin, Baudelaire, Bairơn,… rồi tận nơi nước Nga xa xôi đă xuất hiện những thi sĩ như: Puskin, Parternak,… Tiếng nói và chữ viết không thể diễn tả trọn vẹn cảm xúc của con người; chỉ có tiếng THƠ. Những âm hưởng cô đọng tiềm ẩn trong sâu thẳm của mỗi con người vượt trên những giới hạn của các giác quan, tiếng THƠ tự nó trôi chảy, tự nó vỡ oà, tự nó hú gọi và réo rắc sướt mướt như tiếng khóc của con thơ măi c̣n đồng vọng trong những đêm dài u uẩn…

 

Tiếng THƠ đă đi vào trong huyết mạch mỗi con người Việt Nam thuở sơ khai, có lẽ từ h́nh ảnh thơ mộng của những cánh chim LẠC vi vút thênh thang giữa bầu trời đất Việt và oà vỡ những âm điệu khi du dương, êm đềm lúc bi ai, hùng tráng … những âm hưởng thiêng liêng đó đă lưu truyền qua những lời hát ru, những câu ca dao, tục ngữ,… không cần chữ viết tự thân tiếng THƠ đă tồn tại hàng ngàn thế kỷ này và lan toả khắp nơi cho đến tận mai sau. Tiếng THƠ không hẳn là những âm thanh, không hẳn là những con chữ được sắp theo quy luật nào đó. Tiếng THƠ đă trường tồn trong thế giới này qua những h́nh ảnh, những nỗi niềm sâu kín,…. Chữ viết, tiếng nói chỉ là phương tiện để mô tả và diễn đạt tiếng THƠ.

 

Phải chăng, thi sĩ đích thực là người mang sứ mệnh cao cả, gánh vác một cơi thiêng liêng đang oằn gánh trĩu nặng trên đôi vai gầy guộc.

 

Trên thế giới đă xuất hiện những con người không bao giờ mệnh danh thi sĩ, nhưng đời sống của họ trong từng phút, từng giây đă là THƠ. Qua một nụ hàm tiếu của Thích Ca, nụ cười rộng lượng, bao dung và hàm chứa những mật ngữ trước toàn thể đại chúng đang mải miết suy tư, mải miết kiếm t́m… trong khi đó đại tôn giả Ca Diếp lại có cử chỉ rất nên THƠ, chúng ta hăy h́nh dung giữa một không gian uy nghiêm, hàng ngàn người đang tập trung suy tư, bỗng xuất hiện h́nh ảnh Ca Diếp tay cầm nụ hoa và ánh mắt chăm chăm nhập vào hoa, rồi mỉm cười. Đúng là một h́nh ảnh rất thơ mộng chỉ có thể xuất hiện trong những tâm hồn mộc mạc, sơ nguyên... Và Ca Diếp đă được Thích Ca trao truyền tâm ấn. Hay h́nh ảnh Đạt Ma tổ sư trong nỗi cô đơn thinh lặng, vượt qua bao núi rừng, bao ghềnh thác để rồi sau khi đối thoại với vua Lương Vơ Đế đă lùi về đối diện với Thạch Tâm ṛng ră chín năm trời. C̣n Lăo Tử th́ lặng lẽ cưỡi trâu thong dong tiến về phía Tây trong nỗi niềm cô liêu miên man, cùng tột,… bỏ lại thảo am Đạo Đức Kinh hoang liêu, cô quạnh giữa núi rừng hoang vu … và Nietzsche một con người đại diện cho tinh thần bi tráng đă thốt lên những âm vang thống thiết kêu gọi mọi người “hăy hát lên và đừng nói nữa” để sau cùng ông đă ch́m vào trong cơn im lặng kéo dài đến mười năm và vĩnh viễn… và h́nh ảnh bi thiết của Giêsu với nỗi cô độc khốn cùng khi phải mang vác nỗi chết trên đôi vai sầu bi tiến về phía hố thẳm không đáy. Trong mỗi con người kể trên đều ẩn chứa một hồn thơ lai láng và c̣n rất nhiều nữa những tâm hồn thơ vô danh vẫn đang lặng lẽ nơi những góc phố, những núi cao,… hay ngay giữa ḍng người đang trôi cuồn cuộn theo ḍng chảy của thế giới tâm kỳ bí, cơn sóng của dục vọng qua các giác quan, hải triều của nghiệp lực cứ dâng lên và vỗ măi, vỗ măi không bao giờ lặn để rồi khi va đập vào bờ đă tan vỡ, cuốn trôi và xoá nhoà mọi dấu tích. Phải chăng tiếng THƠ là âm ba vang dội đầu tiên giữa trần gian này và cũng là diệu âm cuối cùng c̣n lại trên mặt đất này để hoà vào ḍng sống thực thụ của toàn thể nhân loại, không phân biệt tiếng nói, chữ viết, truyền thống văn hoá,… Cuối cùng là cảm thức tịch mịch của thi nhân khi thể nhập trọn vẹn vào thế giới THƠ sơ khai qua những cử chỉ thơ mộng vượt lên trên mọi lư luận như những cánh chim vút cao giữa bầu trời xanh thăm thẳm bạt ngàn mây trắng. Tôi mong rằng tiếng THƠ sẽ trở thành khúc ca bi hùng ngân vang măi măi trong ḍng sinh mệnh bất tận của toàn thể nhân loại.


SEN HỒ TỊNH

Khi nói đến hồ Tịnh Tâm ở Cố đô Huế mọi người liên tưởng ngay đến Sen. Một loài hoa tinh khiết, cao quư nhưng lại được mọc lên từ đất bùn nơi các ao hồ. Suốt cả một thời gian dài trong năm, mặt hồ Tịnh Tâm lặng lẽ chỉ có gió nước, nắng mưa, bèo và rau muống, không hề thấy dấu vết của Sen hồng, Sen bạch. Cuối mùa Xuân, những tia nắng vàng giúp cho những cuốn lá Sen non dần dần mở ra, trải rộng những h́nh tṛn xanh mượt mà với những đường gân mơ hồ vàng trắng gợi lên những kỳ vọng về tương lai thanh b́nh của loài người. Qua mùa hạ, sắp đến mùa Phật Đản chúng ta sẽ thấy những phép lạ từ mặt hồ Tịnh Tâm. Sau những đêm dài lặng lẽ, mặt hồ trơ trụi bỗng rộ lên những búp hồng, búp trắng e ấp, thẹn thùng như dáng h́nh thiếu nữ miền Hương mộng đang nghiêng chào quư khách. Khi đợt hoa Sen sau cùng vừa úa tàn là lúc tiết trời sang thu, thời gian Sen buông từng đám bụi phấn vàng rồi thả hương theo gió và hấp thu, tích tụ những ḍng năng lượng của trời đất để chuẩn bị tạo nên những mầm Sen mới trong tương lai. Rồi mùa Đông qua và Xuân lại đến những mầm Sen ẩn ḿnh trong ḷng đất bùn dưới ao hồ để chờ ngày nhú chồi… và lại trông đến mùa Hạ để cho ra những đoá Sen hồng, Sen trắng nuột nà. Ôi, đời Sen cũng tuần hoàn theo nhịp quay của thiên nhiên, theo ṿng xoay của Sinh, Thành, Hoại, Diệt rồi lại Sinh…. Hoa Sen như minh triết sống, đó là sự vô nhiễm của Sen trước những môi trường được xem là không trong sạch được biểu hiện qua câu ca dao “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Sen c̣n tượng trưng cho sự hồi sinh, sáng tạo, cho trí huệ siêu việt, thánh thiện và trong ư nghĩa cao đẹp hoa Sen c̣n là Mẹ, là biểu tượng cho chuyến trở về thật lộng lẫy của mỗi phận người; đó là trở về với cái đẹp, trở về với bản tính uyên nguyên không nhiễm trước,… và trong những chuyến trở về đầy gian nan, không ai giống ai, mỗi người tuỳ theo nghiệp  mà chính ḿnh đă tạo tác để thọ hưởng kết quả, đa phần mỗi người sẽ mang theo những hoài niệm đă trải nghiệm và một vệt tâm dài đă huân tập, nhiễm trước trong cuộc sống thường ngày.

 

Xứ Huế, có rất nhiều nơi trồng Sen. Các ao hồ ở các vùng làng quê, dọc con đường về biển Thuận An, hay các ao hồ sau vườn nhà vùng Kim Long, hồ nước trước sân các ngôi chùa… nhưng đặc biệt nhất là các hồ Sen quanh Kinh thành Huế, trong số đó, Sen hồ Tịnh Tâm là tuyệt hảo nhất. Mỗi lần ngang qua hồ Tịnh Tâm, trên đoạn đường Đinh Tiên Hoàng, lúp xúp dưới những ṿm cây những chị, những mệ đang ngồi lột vỏ, xoi tim và xâu hạt Sen thành từng chuỗi như tràng hạt hoặc bỏ vào trong b́ ni lông để cung cấp cho khách, mỗi b́ ni lông chứa 100 hoặc 200 hột Sen, giá 100 hột Sen biến động từ 4 đến 7 ngàn đồng. Hoa Sen thường được cắt vào buổi sáng, cứ 10 hoa là một bó. Mùa Sen, người Huế thường dâng hoa Sen trên bàn thờ Phật, thờ tổ tiên, hoặc cắm hoa Sen trong nhà tạo nên cảm giác thanh thoát, mát mẻ giữa mùa hè nắng nóng. Khi hoàng hôn buông xuống, các đôi t́nh nhân, những người già và trẻ nhỏ đến bên hồ Tịnh Tâm hóng gió. Những cụ già trầm ngâm soi bóng ḿnh trong ánh trăng hiền hoà dưới mặt hồ rồi gửi hồn bay theo cánh gió trở về với những kỷ niệm đẹp của đời người, các trẻ nhỏ hồn nhiên vui đùa ngập trong làn hương thanh tao, lân la khắp mặt hồ khiến tôi nhớ đến thuở c̣n thơ đă có nhiều tṛ chơi rất thú vị với Sen như: lấy lá Sen làm mũ che nắng, c̣n chùm nhuỵ vàng được cột vào sợi chỉ cuốn lại nơi cuống rồi buông ra tạo nên những ṿng xoáy tṛn đẹp mắt, các hạt sen non trong đài sen được lấy ra đập vào trán vỡ kêu lốp đốp rồi đưa vào miệng nhai ngon lành.Những chiều mùa hạ, khi ráng chiều mơ ṃng rơi dần phía núi gợi lên cảm giác cô đặc không gian khiến hồn người dập d́u theo những sóng hoa đang nhấp nhô trên mặt hồ. Những dáng hoa Sen hồng, Sen trắng thật đoan trang, quư phái,… và kín đáo như người con gái xứ Huế. Những hoa Sen vươn lên trong màu chiều cô tịch và hoà với những ánh màu hắt từ mặt hồ tạo nên khung cảnh lung linh, huyền ảo phả nhẹ vào không gian rồi tan dần, mờ dần theo thời gian.

 

Những đêm trăng tháng Tư, hoa sen hồ Tịnh Tâm nở rộ. Mỗi hạt sương đọng trên mỗi cánh Sen in bóng muôn vàn mặt trăng lay động khắp hồ. Mỗi cánh hoa Sen như mỗi chiếc thuyền chở trăng lênh đênh theo ḍng đời và đưa hồn người vào cơi mông lung với những biến điệu ảo diệu của hương màu. Đến hồ Tịnh Tâm vào mùa Sen nở, mùa trăng lên, đặc biệt là trăng tháng Tư, chúng ta mới cảm nhận sự yên b́nh, thanh thoát trong tâm hồn. Ngày trước hồ Tịnh Tâm c̣n có tên là Kư Tế. Kư Tế là tên một quẻ trong Kinh Dịch bao hàm ư nghĩa “việc đă xong, đă rồi”.

 

Phải chăng, từ các yếu tố: mặt hồ tĩnh lặng, ánh trăng thơ mộng và làn hương Sen d́u dặt, đă gợi nên cái tên rất ư vị: Tịnh Tâm? Hay ẩn chứa đằng sau cái tên mang âm hưởng của đạo Phật là những ám ảnh của một quá khứ đầy tội lỗi của những hoài nghi, đố kỵ và để có một nơi trú ngụ nhằm ẩn tránh, xua tan những cơn ám ảnh hăi hùng hoặc cũng có thể để trực diện với những cảnh tượng hiện lên trong tâm tưởng mà phát nguyện lời ăn năn, sám hối…Con người sau những chuỗi ngày tất bật ai ai cũng muốn có những phút giây thanh thản, những cảm giác thư thái, an vui trong tâm hồn. Để rồi trong cuộc hành tŕnh cuối cùng trở về nơi trú xứ xa xưa, trở về với trạng thái vắng lặng,… mọi người phải nỗ lực và thắp lên niềm hy vọng, rồi đây tất cả chúng ta sẽ lần lượt được đón nhận một đoá hoa Sen trong cơi miền tràn đầy niềm hân hoan.


MẸ!

Mẹ! Cái âm hưởng thơ mộng, trong suốt như chân không, không một sự ngăn ngại nào cản trở được, âm hưởng đó đă tự động ghi lại trong kư ức của tất cả mọi người. Cho dù mỗi ngôn ngữ có một kư hiệu riêng, một tiếng gọi Mẹ khác nhau, nhưng bản chất của tiếng Mẹ hay nói cách khác là những ǵ bộc phát ra tiếng Mẹ từ mỗi người con là không thể khác nhau được. Theo thống kê, trên thế giới có rất nhiều ngôn ngữ diễn đạt tiếng Mẹ đều dùng chữ M đầu tiên. Như Mère, Marâtre, Maman (Pháp), Mat (Nga), Mutter (Đức), Mater (Latinh), Madre (Tây Ban Nha, Ư), May (Bồ Đào Nha),  Mothir (Ailen), Mati, Mata (Ấn Độ), Mitera, Mêter (Hy Lạp), Modar (Iran), Mayr (Acmêni), Mouchan (Trung Quốc), Mother, Mum,  Mama,  Mammy (Anh), ... riêng tiếng Việt th́ có Mẹ, Me, Mạ, Má, Mế (Mường), Mé (Champa),... (1)

 

Mẹ như một tiên nghiệm, bởi v́ tất cả chúng ta đều được Mẹ sinh ra và theo biện chứng th́ trước khi có ta th́ đă có Mẹ. Xuôi theo ḍng thời gian Mẹ trở thành sự hiện hữu trường cửu trong mỗi người con, cho dù người con có là vĩ nhân, là bác học, là thiên tài, là đấng cứu thế, là tổng thống, là vua, là kẻ phá rối, kẻ sát nhân,…là ǵ đi nữa th́ trong đôi mắt Mẹ, con luôn là đứa trẻ thơ dại. Bởi vậy, dù con có phạm phải những lỗi lầm nhưng Mẹ luôn tha thứ. Tất nhiên, có bà Mẹ nào mà muốn con ḿnh trở thành kẻ sát nhân, có Mẹ nào lại muốn con ḿnh thành kẻ cướp, kẻ phá hoại. Mong muốn của Mẹ thật giản dị là chỉ muốn con nên người.

 

Những người lớn, những người trưởng thành về mặt sinh lư hăy nh́n lại những ǵ Mẹ đă làm cho ḿnh, hay cứ nh́n vào những bà mẹ trẻ đang có con dại th́ sẽ thấy được h́nh ảnh của chính ḿnh được Mẹ chăm sóc, nuôi nấn từ thuở lọt ḷng, rồi được Mẹ nuông chiều, gửi gắm t́nh thương, những t́nh cảm, hành động của Mẹ như một bài học đầu đời dạy cho chúng ta biết thế nào là t́nh thương, thế nào là ḷng nhân ái. Và thật đau ḷng khi nh́n thấy những đứa trẻ không c̣n Mẹ.

 

Trong lịch sử của nhân loại từ những nền văn minh xa xưa Ai Cập, Hy Lạp, La Mă hay Trung Hoa, Ấn Độ,… cho đến những kỷ nguyên của nguyên tử, điện toán, nhân bản vô tính,… rồi sẽ xuất hiện những kỷ nguyên với những định danh mới, nhưng con người không thể nào không có Mẹ. Ngoài bà Mẹ bằng xương, bằng thịt, có trái tim ngập tràn t́nh thương yêu vô bờ bến sẵn sàng ban phát cho các con. Th́ c̣n có những bà Mẹ tâm linh mà bất kỳ quốc gia nào hay tôn giáo nào cũng có. Như trong huyền sử Việt Nam có Âu Cơ là tổ mẫu, Phật giáo ở Việt Nam có Quán Thế Âm bồ tát là Mẹ tâm linh, rồi Mẹ Thiên Y-a-na là kết quả của một quá tŕnh giao thoa giữa các nền văn hoá  Việt - Champa; Mẹ Thiên Y-a-na c̣n có tên là Yang Inư Pô Nagara. Khoảng thể kỷ thứ 18 h́nh ảnh Mẹ Maria đến với Việt Nam và ở tỉnh Quảng Trị đă xuất hiện Mẹ La Vang hiện thân cho t́nh thương của đạo Thiên Chúa. Và Mẹ Thái B́nh một biểu tượng về ước mong cao quư cho nhân loại được b́nh yên, t́nh thương yêu của mẹ như biển được thể hiện qua “Ḷng mẹ bao la như biển Thái B́nh rạt rào/…Thương con khuya sớm bao tháng ngày/ Lặn lội gieo neo nuôi con tới ngày lớn khôn” trong bài Ḷng Mẹ của nhạc sĩ Y Vân, hay trong nhạc phẩm Đạo ca 6 của nhạc sĩ Phạm Duy t́nh mẹ cao cả được biểu hiện: “Con ơi ! Mẹ là Thượng Đế, cho con tâm lư nguyên sơ / Câu ru và ḍng sữa quư, cho con nguyên lư diệu vời / Ru con rằng : Đời muôn lối, như mây kết hợp, rồi tan / Thân con là Trời cao vói, tim con là cơi địa đàng”,… hay trong Bông Hồng Cài Áo của thầy Nhất Hạnh đă nói về những thiệt tḥi của những người con khi chưa được cảm nhận suối nguồn thương yêu từ Mẹ qua những câu ”Mẹ, mẹ là ḍng suối dịu hiền/ Mẹ, mẹ là bài hát thần tiên/ Là bóng mát trên cao/ Là mắt sáng trên cao/ Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối/ Mẹ, mẹ là lọn mía ngọt ngào /Mẹ, mẹ là nải chuối buồng cau /…Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời” và trong Nguyên Lư Mẹ của triết gia Kim Định đă nói về Mẹ Thái B́nh, Mẹ là cái nôi văn hoá lớn bao phủ lên những miền đất có một đời sống minh triết, một đặc tính chung: Yêu thương. Đặc biệt trong ca dao Việt Nam, h́nh ảnh người mẹ là biểu tượng của sự hy sinh cao đẹp, lộng lẫy, biểu tượng của t́nh thương yêu đă ăn sâu trong tâm thức mọi người qua những điệu ḥ ru con: “Mẹ già như chuối ba hương/ Như xôi nếp một, như đường mía lau”, hay “Chiều chiều ra đứng ngơ sau,/ Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều”, hay “Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.

 

Có thể Mẹ không bao giờ nghĩ đến sự báo đáp của người con, nhưng ḷng yêu thương bao la của mẹ đă được những người con trên toàn thế giới đền đáp công ơn, báo hiếu qua những ngày lễ về Mẹ như: lễ Vu Lan mùa báo hiếu vào ngày Rằm tháng Bảy Âm lịch hàng năm, khoảng thời gian dành cho những người con hồi hướng công đức về Mẹ; mẹ trong hiện tại, mẹ trong quá khứ và mẹ của tương lai cứ như thế ḍng chảy luân phiên bất tận và trong Phật giáo có bồ tát Mục Kiền Liên là tấm gương cao cả về hiếu hạnh, hay vào tháng Ba Âm lịch ở điện Ḥn Chén - Huế có ngày vía Mẹ, lễ rước thánh mẫu Y-a-na trên ḍng sông Hương xanh mộng, ngọt ngào và chúng ta có thể gọi sông Hương là ḍng sông Mẹ. Và ngày 15/8 Dương lịch là ngày lễ Mẹ La Vang ở Quảng Trị. Bên kia bờ Thái B́nh Dương, hàng năm vào ngày Chủ Nhật tuần thứ nh́ của tháng 5 được gọi là ngày “Lễ Mẹ” (Mother’s Day) ở Mỹ và các nước châu Âu, Úc; vào ngày này tất cả những người con đều trở về thăm Mẹ và tặng những món quà ư nghĩa dâng lên Mẹ, sẽ có những người con không c̣n Mẹ nữa nhưng chúng ta hăy tưởng nhớ trọn vẹn về Mẹ để hoà nhập vào ḍng suối thương yêu của mẹ, để cảm nhận được niềm hạnh phúc vô bờ bến. Cũng từ tiên nghiệm về Mẹ tôi cảm nhận được Mẹ vũ trụ, Mẹ của sự hoá sinh, Mẹ của vạn vật hay Mẹ sáng tạo, Mẹ là ḷng từ bi bao la, mà ḷng từ bi th́ không bao giờ biến mất trong thế gian này cho dù Mẹ đă khuất xa, dù xương thịt Mẹ sẽ thành cát bụi nhưng t́nh thương của Mẹ đă gửi lại giữa thế gian này những ḍng lực từ bi vĩnh hằng. Vậy, Mẹ là sự trường cửu v́ những nỗ lực của thế giới chúng ta đang từng giờ, từng phút, từng giây hướng đến cái tâm từ, cái tánh thiện, hướng đến một thế giới đại đồng an vui. Qua những trải nghiệm tôi cảm nhận được sức mạnh của t́nh thương. Suy nghiệm lại tôi thấy có những nguyên nhân để con người phát ra được năng lực tiềm ẩn bên trong: Ḷng yêu thương trọn vẹn, sự tập trung tư tưởng, ḷng căm thù, ḷng tham vô đáy và sự sợ hăi. Trong những nguyên nhân trên th́ ḷng yêu thương trọn vẹn là điều giúp cho nhân loại có cuộc sống thanh b́nh, sung sướng và hạnh phúc. Điều đó tất cả chúng ta đều đă được Mẹ dạy từ thuở chưa lọt ḷng. Mẹ đă dạy chúng ta về t́nh thương thuở người con đang là tượng trong bào thai.


KHÔNG GIAN XỨ HUẾ

Con người từ khi cảm nhận thế giới xung quanh là lúc cảm được sự xa vắng, ly biệt… Nhớ hồi thơ dại, đứng trên bến sông trước nhà nh́n sang Cồn Hến thấy sông rộng lắm, cứ nghĩ khó mà bơi sang được hay mỗi lần đi bộ từ nhà lên cầu Gia Hội dù chỉ vài trăm mét nhưng lại cảm thấy rất xa. Càng lớn khôn, sự cảm nhận về khoảng cách được rút ngắn. Nhưng lạ thay khoa học càng khám phá không gian, vũ trụ th́ càng chạm đến cơi vô cùng. Thời gian đến với nhận thức của con người muộn hơn so với không gian. Và người ta thường nói thời gian là chiều thứ tư trong không gian chúng ta đang sống. Khi ta nh́n vào ḍng lịch sử hào hùng của dân tộc, nh́n vào những thời đại xa xăm trên thế giới trong mỗi chúng ta lại dấy lên nỗi niềm vời vợi của kiếp phù sinh. Phải chăng, điều đó làm nên cấu trúc tư duy của loài người chúng ta, để rồi từ lối ṃn tư duy đó mà thế giới chúng ta đă xuất hiện các triết gia, những nhà khoa học, các đạo sĩ, nghệ sĩ, kẻ khủng bố, những con người b́nh thường... Cũng từ vết tư duy đó đă gợi lên cơn xao xuyến, hăi hùng, niềm hạnh phúc và nỗi khổ đau mà mọi người đang trải nghiệm. Không gian của một xứ sở không chỉ là vùng trời mây, sông núi, mà c̣n có cả những nền văn hoá đang hiển hiện hay tiềm ẩn trên xứ sở đó.

 

Xứ Huế, nơi thơ mộng đă đi vào trong thi ca, hội hoạ, một xứ sở được mệnh danh là “bài thơ đô thị”, quê xứ của “thanh sắc thi ca” đă được cả thế giới công nhận là di sản văn hoá thế giới bởi quần thể di tích gồm hệ thống kinh thành, lăng tẩm, miếu chùa, đền đài,… và cả một nền âm nhạc cung đ́nh vừa được ấn chứng là di sản văn hoá phi vật thể. Vừa qua, một hy vọng loé lên cho Cố đô về việc có người nêu ư kiến lập hồ sơ đề nghị UNESCO xem xét công nhận sông Hương là Di sản thế giới. Vậy là Hương giang lại thêm cơ hội để xứng đáng với cái tên kỳ mộng. Nhưng không v́ thế mà không gian xứ Huế chỉ hiển hiện nơi những di sản đó. Ngoài những màu thông thường, th́ sắc màu của không gian Huế thay đổi theo bốn mùa. Mùa Xuân, không gian Huế nở rộ những gam màu của các loài hoa, nhưng đặc biệt nhất là sắc vàng rực rỡ của hoa Hoàng Mai, biểu tượng của mùa Xuân, đă khiến thi nhân Cao Bá Quát phải đảnh lễ (“Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”). Mùa Hạ, dưới nền trời trong xanh bạt ngàn mây trắng chợt điểm xuyết những mảng màu đỏ thắm của những cánh hoa Phượng đang khẽ lay theo gió như những ngọn nến lung linh, mùa Thu đất trời xứ Huế chuyển sang gam vàng mơ phơn phớt của màu lá đang rơi pha lẫn chút sắc mờ trắng của màn sương ảo diệu và chút tím mơ hồ d́u dặt hồn người, mùa Đông không gian Huế như được phủ một màn mưa trắng đục lất phất buồn và tản mát đâu đó những điểm nhấn mang mang màu hoài cổ. Trong sắc màu xứ Huế, có lẽ sắc tím d́u dịu vào những chiều hoàng hôn là lung linh, huyền ảo và đặc trưng của đất Cố đô.

 

Một ngày đông những sợi mưa trắng buồn níu trời gần đất, gây nên cảm giác cô quạnh, lúc này không gian Huế như bức tranh thuỷ mặc u hoài, gợi cảm. Buổi sáng mù sương những làn da chợt mát lạnh khi va chạm vào những hạt nước li ti đang lờ lững khắp phố thị tạo nên không gian ảo huyền, thực hư hư thực.

 

Những lúc ngồi bên hiên phố nh́n chiều buông mà thấy ḷng yên ắng lạ thường, phía tây xa xôi những ánh tà dương cuối cùng sót lại, lất phất những lớp bụi mỏng ửng hồng mơ hồ như đời người và phía sâu thẳm của ḍng Hương văng vẳng điệu Nam Ai, Nam B́nh sao mà thê thiết, bi ai, bùi ngùi cái chất thôn làng ngay giữa phố thị và trên ḍng Hương giang mờ ảo ẩn hiện bóng h́nh của con đ̣ lênh đênh về phía trời chiều bất tận. Không gian Huế là không gian của hoài niệm, khung trời xưa sẽ hiện về khi đâu đó trong không gian ngân vọng một điệu ḥ, phải chăng trong thăm thẳm cơi không gian xứ Huế đang tàng ẩn những cung bậc của “Ḥ”; một thể loại đặc trưng của làng quê Việt Nam. Và thỉnh thoảng ta lại thấy ngay giữa phố hội yêu kiều nhộn nhịp lại tái hiện những lễ hội tế làng truyền thống nơi những ngôi đ́nh làng đang ẩn dật một cách khiêm cung trong nội thành và những miền ngoại ô phố thị.

 

Những ngày lang thang miền núi đồi thơ mộng Ngự B́nh, Thiên An, Vọng Cảnh,… cảm được chiều kích hun hút của hồn thiêng sông núi đất Thần kinh. Một buổi chiều bên sườn đồi Vọng Cảnh, ẩn ḿnh dưới những chồi thông óng mượt đang vươn lên là những đám hoa dại mơ ṃng đang nhấp nhô, uốn lượn theo sóng đồi tô vẽ thêm nét đẹp cho đất. Hướng về phía trời tây xa xôi là những mảng màu huyễn hoặc của thiên nhiên đă tạo nên bức tranh trác tuyệt với những sắc màu d́u dặt nườm nượp dâng lên từ sông Hương rồi phả vào mọi ngơ ngách... Một kiệt tác của thiên nhiên với những khoảng trống diệu kỳ tôn vinh thêm vẻ đẹp của bức tranh, đă khiến cho tiền nhân, những người tôn trọng Chân Thiện Mỹ đă dày công lưu giữ, bảo tồn đến hôm nay và đặt cái tên rất tương xứng khi ở điểm nh́n lư tưởng: “Vọng Cảnh” và biết bao thế hệ, bao con người đă có lần đến ngọn đồi thiêng này để thưởng thức phong cảnh hữu t́nh, hưởng những phút giây thư giăn, hoà vào thiên nhiên sau những giờ lao động nhọc nhằn và cuối cùng là để chiêm nghiệm lẽ đời, nh́n vào nội tại của chính ḿnh để thấy rơ sự yếu đuối, thấp hèn ẩn núp dưới lớp vỏ bọc bệ vệ, dưới những ngôn từ đạo đức, hoa mỹ... Ngồi thả hồn hoà vào núi sông rồi miên man nghĩ về những cái tên Thiên Thai, Kim Phụng, Ngự B́nh, Vọng Cảnh, Thiên An,… mà người xưa đă đặt tên sao mà hoàn mỹ vậy! Chỉ xét về mặt ngữ nghĩa đă phần nào cảm được sự yên ắng, sự cao sang, quư phái… gợi lên những âm hưởng thơ mộng, thiêng liêng của núi sông. Một ngày đẹp trời trên chuyến đ̣ ngang qua sông Hương bất giác ngước nh́n lên dăy Trường Sơn thấy được sự hùng vĩ của một vùng trời và nhận ra con người quá nhỏ bé trước thiên nhiên bí ẩn. Một chiều tà chớm thu ngồi bên sông Như Ư trong xanh như ngọc, hướng ánh mắt phía chiếc cầu Trường Tiền lịch sử đă tồn tại hơn trăm năm mà ḷng bỗng ngậm ngùi theo những nhịp cầu. Ô hay! Nhịp cầu và nhịp đời hay nhịp bước chân đi uyển chuyển với đôi quang gánh trên vai những mệ, những o,… trông thật nhẹ nhàng nhưng đă khiến cho cơi ḷng tôi nằng nặng một nỗi xót xa, bởi bên dưới những đôi quang gánh là vệt thâm tím ám ảnh cả một đời người. Rồi cái âm thanh của gióng, gánh níu nhau hoà vào tiếng bước chân khô khốc cứ gợi lên trong tâm tưởng tôi những tiếng đay nghiến oan nghiệt của phận người đang cam ḷng chịu đựng nỗi khốn khó nghiệt ngă của vùng đất Thần kinh. Xa xa hơn nữa cũng từ hướng nh́n đó bỗng lộ ra ngọn Kim Phụng đầy âm lực hứa hẹn những tương lai xán lạn của xứ sở thân yêu. Dưới bầu trời trong xanh là những áng mây trắng trôi bềnh bồng như đang khảm vào phía núi tạo nên cảnh sơn thuỷ hữu t́nh.

 

Khi những du khách đến Huế th́ cảm nhận đầu tiên có lẽ thời gian nơi những con phố này chậm hơn những nơi khác? Và không gian ở Huế thật êm đềm. Đúng vậy, nếu ban mai khi bạn vừa tỉnh giấc và nghe một tiếng gà gáy vừa ngưng, bạn sẽ cảm nhận được một sự yên ả đến lạ thường. Tiếng gà không những báo hiệu cho một ngày mới bắt đầu mà tàng ẩn trong âm hưởng đó là cả vùng trời hoa mộng, một khung cảnh yên b́nh. Có thế nh́n không gian của Cố đô Huế như những cặp không gian đối ngẫu nhưng luôn bổ khuyết cho nhau. Ví như Huế không có ḍng sông Hương mơ màng th́ không ai nhắc đến núi Ngự B́nh và sẽ không bao giờ xuất hiện hai câu thi sấm của Bùi Giáng thi sĩ:

 

“Dạ thưa xứ Huế bây giờ

Vẫn c̣n núi Ngự bên bờ sông Hương

 

Phía Bắc sông Hương là kinh thành cổ kính, cùng những dăy phố cổ Chi Lăng, Bạch Đằng, Bao Vinh trông thật tĩnh lặng, th́ ngược lại bờ Nam sông Hương là phố hội với những khách sạn cao tầng, những trung tâm vui chơi giải trí Ngự B́nh, Thiên An… vắng vẻ. Nh́n ở góc độ triết học, ta có thể cảm nhận được tính lưỡng nghi của đất Cố đô đă tàng ẩn trong không gian Huế và điều đó c̣n được thể hiện qua những bức tranh của hoạ sĩ Bửu Chỉ với bóng h́nh nhật nguyệt và chiếc đồng hồ khuyết tật được bao trùm bởi không gian ảm đạm, thăm thẳm đè nặng lên phận người gầy guộc,…hay trong một số ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn như “Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt”, “Trời xanh trong mắt em sâu”,… trong nhiều câu thơ của Ngô Kha như “nh́n nếp nhăn bao la trên vừng trán mẹ”, “khoảng hư vô như cánh tay gối đầu”,… Phải chăng không gian của đất Thần kinh là không gian của thanh, sắc, thi, ca? Không gian của nỗi niềm tri âm, hoài vọng, được hoà trộn bởi quá khứ, hiện tại và vị lai. Không gian mà khi trời chuyển mưa th́ đông về, chớm nắng th́ hạ lên. Một vùng không gian rất nhạy cảm đă tác động đến tâm thức của con người xứ Huế.

 

Huế là xứ sở chịu nhiều sự khắc nghiệt của thiên nhiên như lụt băo và hạn hán hàng năm. Đă có không ít những cơn băo, trận lụt lịch sử đă gây bao tang thương và hằn sâu trong dân gian như: cơn băo năm Th́n (1904) và người dân Huế có câu vè: “Băo năm Th́n xô cầu Trường Tiền găy bốn, đốn cột cờ găy ba”, trận lụt năm 53 (1953), lụt năm 1975, băo năm 1985 và gần đây nhất là trận lụt thế kỷ năm 1999 đă khiến cho cả thế giới phải hướng vào xứ sở lạ lùng này. Nhưng lạ thay dù phải chịu đựng sự khắc nghiệt đến vậy mà xứ Huế vẫn được mệnh danh là một thành phố xanh. Khi nói đến thành phố xanh, người ta thường nghĩ ngay đến màu xanh của cây cối. Điều này cũng được thi nhân Hàn Mặc Tử nói đến trong bài “Đây thôn Vĩ” qua câu thơ “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Nhưng không hẳn như vậy, Huế, ngoài những mảng xanh của cây cối, vườn tược, c̣n có cả màu xanh của bầu trời và dải lụa biêng biếc của ḍng Hương giang danh tiếng. Để có những mảng xanh như vậy một phần do người Huế rất yêu quang cảnh thiên nhiên, phần do sự sắp đặt huyền diệu của tạo hoá. Hầu như không thành phố nào có nhiều nhà vườn như ở Huế. Mặc dù trước đây đă có nhiều trận lụt lớn nhưng người Huế hầu như rất ít xây nhà cao tầng. Cũng từ những ngôi nhà vườn tưởng rằng đơn sơ nhưng nó đă trở thành một trong những nét văn hoá của người dân Huế. Có thể nói “Vườn Huế”, một xứ sở của văn hoá tâm linh là cơi để mỗi người đối diện với không gian nội tâm của chính ḿnh. Khi nói đến không gian người ta thường nghĩ đến cái khoảng trống vật lư. Thật ra, không gian là những ǵ đang hiển hiện trước mắt chúng ta như cảnh đẹp của thiên nhiên, khoảng trống của trời mây sông nước và nét đẹp văn hoá được người dân bản xứ tạo dựng nên. Và để có được những không gian vật lư đẹp phục vụ cho các giác quan của chúng ta th́ bên trong mỗi con người của quê xứ đó phải có một cấu trúc không gian tâm lư độc đáo, thắm đượm bản sắc dân tộc. Đó chính là văn hoá; cái nôi của sự tồn tại và phát triển. Tiếc rằng, không gian của đất trời Cố đô thơ mộng đang dần dần biến dạng bởi những công tŕnh, những toà nhà không phù hợp và điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến không gian tâm lư của con người xứ Huế và du khách thập phương.


ĐƯỜNG VỀ LÀNG

H́nh ảnh gần gũi và thân thuộc nhất của đa phần người dân Việt Nam có lẽ là h́nh ảnh làng quê, người Việt hầu như ai cũng có làng quê, nơi quê cha đất tổ, vùng đất mà cha ông đă khai hoang. Làng quê đă trở thành cái nhân của văn hoá dân tộc Việt Nam suốt hàng ngàn năm lịch sử hào hùng, một dân tộc đă trải qua chuỗi ngày dài những mất mát, đau thương, những lầm than cơ cực,… và những chiến công lẫy lừng vang dội khắp nơi đă lưu truyền trong máu huyết của mỗi con người Việt Nam. Mặc dù trải qua những biến cố tưởng chừng như không c̣n chịu đựng được nữa nhưng dân tộc Việt Nam vẫn quyết bảo vệ cơ nghiệp của tổ tiên, của các vua Hùng,… đă để lại và tiếp tục vun đắp, dựng xây cho đến hôm nay và măi măi sau này...

 

Tôi sinh ra ở một làng quê tỉnh Quảng Nam, tuổi thơ đă phải nghe những gào thét cuồng nộ của bom đạn, nghe những tiếng khóc, những lời than ai oán, năo nùng… nghe những hồi c̣i báo động của những tháng ngày hoạn nạn và măi c̣n đồng vọng trong tâm tưởng tôi đến tận bây giờ. Những h́nh ảnh thảm khốc, những cảnh tượng hăi hùng cứ chập chờn trong tâm trí, và làm sao quên được những trái trứng cá đỏ tṛn, óng mượt, lịm ngọt rơi trên nền gạch cổ của ngôi nhà có căn hầm tận dưới ḷng đất sâu để tránh đạn bom. Khi đất nước tạm lắng tiếng bom đạn, gia đ́nh tôi trở về ngôi nhà ba gian nho nhỏ ở ven bờ sông Hương thơ mộng của xứ Huế. 

 

Thỉnh thoảng ba tôi chở anh chị em tôi về làng thăm bác, thăm o, thăm anh chị, thăm bà con, làng xóm… Những h́nh ảnh quê nội trong tôi là các ụ rơm, cánh đồng mênh mông xa hút tận chân trời, ánh mắt thật thà của người dân thôn làng, những nét mặt dăi nắng dầm mưa, nụ cười hiền hậu, những giọt nước mắt chan chứa t́nh người… và không thể quên được con đường cát trắng cháy bỏng dưới cái nắng chang chang của trưa hè, con đường cát trắng kéo dài từ xóm một đến xóm Bốn của làng Xuân Ổ thuộc xă Phú Xuân, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Đầu con đường vô làng có chợ Diên Đại, chợ làng đơn sơ này chỉ hoạt động vào buổi mai. Qua khỏi làng Diên Đại là đến làng tôi, đ́nh làng Xuân Ổ nằm cách lối đi vào nhà bác tôi khoảng 400m, lối đi nho nhỏ phủ đầy cát trắng, hai bên ven đường có luỹ tre xanh đan nhau kéo dài suốt lối đi. Đ́nh làng đă bị hư hại, xuống cấp bởi những tháng ngày chiến tranh, bây giờ đang được tu sửa phục hồi, đ́nh làng có bốn cột trụ cao vút giữa nền trời trong xanh vời vợi, như hầu hết các d́nh làng Việt Nam. Đ́nh làng là nơi thờ tự vị thần Thành Hoàng, thông thường là người có công khai khẩn đất đai lập nên làng, ngoài ra khuôn viên của đ́nh làng c̣n được sử dụng để làm nơi hội họp, sinh hoạt văn hoá. Hầu như trong các làng xă đều có lập miếu âm hồn để thờ tự vong linh những người chết dọc đường không có bà con thân thích, phải chăng đây là một trong những biểu hiện ḷng nhân ái của những con người ở làng quê Việt Nam? Điều này khiến tôi nhớ đến những phận người không may đă từ giă cuộc đời dọc đường ven phố, họ không có thân nhân và đă được những người trong các xóm nhỏ, trong những thôn làng, mặc dù rất nghèo tiền bạc, nghèo vật chất, nhưng họ rất giàu ḷng nhân ái, rất thương yêu đồng loại đang gặp cảnh ngộ khó khăn, cùng đường tắt lối, họ đă cùng nhau gánh vác trách nhiệm trước những sinh mệnh đau thương ĺa khỏi cuộc đời và tiễn đưa những xác thân đang lưu lạc về nơi yên nghỉ. Chính những con người ở các xóm nhỏ, các thôn làng là những người đă giữ lại phần nào tâm t́nh của làng quê Việt Nam qua những câu như: t́nh làng nghĩa xóm, lá lành đùm lá rách, thương người như thể thương thân,…

 

Con đường cát trắng như xương sống của làng, một bên là những ngôi nhà, những xóm thôn, những ruộng đồng, bên kia là độn cát trắng nối nhau chập chùng, đầy  rẫy những bụi xương rồng hoang vươn lên mănh liệt giữa nắng, gió và cát trắng... Độn cát trắng cũng là nghĩa địa của làng, nơi chôn cất những đời người đă sống gắn bó với làng quê, trong đó có tổ tiên, ḍng họ tôi, có ông bà tôi và những người suốt đời xa làng quê của ḿnh cho đến khi nhắm mắt xuôi tay cũng lưu lạc nơi miền đất xa lạ, có lẽ bà ngoại tôi buồn lắm ? Mắt tôi bỗng nhiên rươm rướm những giọt khô khốc, mằn mặn, cổ họng uất nghẹn khi nghĩ đến một ngày nào đó, mong rằng ngày đó sẽ rất xa, một ngày mà ba mẹ tôi, anh chị em và những người thân, rồi sẽ đến gia đ́nh tôi và lần lượt cho tất cả mọi người trên thế gian này phải nằm xuống để yên nghỉ, nằm nghĩ ngợi về một chuỗi thời gian mà họ đă sống, đă trải nghiệm. Ôi cuộc đời có dài lắm không vậy? Sao mà biết bao điều đă xảy ra, hiện đến ngoài ư muốn, những buồn vui, khổ đau, hạnh phúc, ganh tỵ, những tranh dành, thù hận,… Để rồi đến một ngày, dù muốn hay không sẽ đến lượt mỗi người phải đành chấp nhận đi trên chuyến xe tang để “về làng” lần cuối cùng và vĩnh viễn sẽ không về nữa. Tại sao tôi lại nghĩ đến hồi kết buồn tẻ của cuộc đời sớm quá vậy?

 

Đă quá lâu, hơn 10 năm nay tôi không về làng quê, nhưng h́nh ảnh ngôi làng cùng những mái nhà h́nh chữ A cứ quanh quẩn trong tâm trí tôi, h́nh ảnh bác tôi trước khi mất, h́nh ảnh mấy o, mấy anh chị hiện lên trong tôi, và h́nh bóng một thằng bé loắt choắt chạy bộ một ḿnh qua con đường cát trắng, qua những nghĩa địa, những cánh đồng, chạy bộ, rồi đi bộ để nghỉ, để thở cứ thế luân phiên nhau cho đến hết đường cát trắng ra con đường đất đỏ, trời tháng chạp lất phất mưa, cái quần, cái áo phất phơ theo gió, đất đỏ dính đầy, rồi nó đếm từng chiếc cầu sắt, Sam, Dưỡng Mong,… bởi nó không thuộc đường về nhà nên vừa chạy vừa nh́n vừa hỏi, nhưng biết hỏi ai trên con đường quê vắng ngắt, chỉ có tiếng gió rít, tiếng bước chân và hơi thở dồn nhập hoà cùng nhịp tim th́nh thịch trong lồng ngực của nó… Cho đến khi người anh con bác ruột lái xe lam ba bánh chở khách lên phố bắt gặp bồng nó lên xe chở về chợ Đông Ba, nó đi bộ về nhà. Cả nhà nó đang ở dưới làng để chạp mồ chạp mả đều hoảng hồn đi t́m nó, mấy bác, mấy o và anh chị em cũng chạy t́m nó nhưng nó th́ đă ngồi yên ở ngôi nhà ven sông. Nhớ những đêm soi đèn dầu đi bắt ếch, nhái cùng người anh con o, con bác ruột, mỗi người một cái túi, như túi ba gang trong chuyện Sự tích cây khế, đi ra đồng chân đá, tay chụp,… Tôi đi cả đêm mà có chú nhái, ếch nào chịu vào túi đâu. May nhờ các anh đă có tay nghề nên sáng mai đă có một nồi cháo nóng hổi thơm mùi đậu xanh và mang đậm hương vị đồng quê. Nhớ những ngày sau mùa gặt, anh em chúng tôi người mang gánh gióng, kẻ đem theo liềm đi ra đồng bứt tóc, bó lại thành từng bó gánh về cho trâu ăn và để đun lửa. Chiều chiều về lại đi gánh phân trâu cũng là công việc làm sạch làng quê và dùng để bón cho cây cối quanh nương vườn.

 

Có một chiều, mấy anh em chuẩn bị “dự án” đi bắt cua, công tác chuẩn bị và huấn luyện phương pháp bắt cua thật là chu đáo, người nào cũng mang theo bao bố loại nhiều lớp dày cộm, và có cả đơm, rọ,… Đến giờ xế chiều mấy anh em hăm hở kéo nhau ra ngoài rào, muốn ra rào phải qua rất nhiều cánh đồng, hồi đó tôi cảm thấy xa lắm, vậy mà chỉ đi bộ. Làm sao tôi quên được khi chân tôi giẫm phải một con cua và tôi đă trúng một đ̣n của chiếc càng, tôi đoán chàng cua này chắc chắn thuộc tầng lớp đại ca, tôi hét lên một tiếng thất thanh giữa trời đất mây nước bao la và hậu quả là một miếng da chân dày như da heo rừng vậy mà cũng bị lóc ra và chảy máu, mọi người chạy đến phía tôi làm nước văng tung toé, ướt cả mặt. May nhờ nước rào mằn mặn nên đă sát trùng và cầm máu. Đến tối trước khi chuẩn bị kéo quân về, anh tôi đă tóm được đại ca cua đưa tôi xem cho hả giận. Vậy là “dự án” bắt cua cũng kha khá. Rồi h́nh ảnh những người anh con bác tôi, thân h́nh lực lưỡng, ngâm ngâm đen, nét mặt nhuốm màu sương gió, nắng mưa, họ cùng nhau đạp nước, tát ao bắt cá, bắt lươn … H́nh ảnh những o, những chị tay lấm chân bùn đang gieo mạ  xanh cả một vùng không gian, và h́nh ảnh bác tôi đang điều khiển con trâu, cái cày tạo nên những luống đất thẳng tắp xa tít tận chân trời. Những lúc rảnh rang mấy anh chị em thường rủ nhau đi đào khoai, hái dưa,… về nấu những nồi khoai lang nóng hổi, những nồi khoai lang nóng đó c̣n được dùng để xông cho những người bị cảm, món ăn đơn giản và nhanh gọn nhất có lẽ là dưa gan chấm ruốc, ăn những lát dưa gan chấm ruốc thật mặn mà, thơm mát… Những năm c̣n đi học, cứ đến mùa hè là anh chị em tôi thay phiên nhau về thăm làng và ở lại vài ba hôm có khi đến cả tháng. Ngủ lại đêm ở làng quê mới cảm nhận được cái yên ắng, cái tịch mịch, cái thơ mộng của đêm làng, nhất là những đêm sáng trăng, ánh trăng sang trọng, trinh bạch, trăng làng quê thật kỳ lạ, vừa mộc mạc, chân chất lẫn quư phái, vừa thơ ngây hồn nhiên lại pha nét đăm chiêu… Các anh chị tôi dậy rất sớm khi trời đang c̣n tờ mờ, khoảng hơn 3 giờ sáng đă vác cuốc ra đồng, mấy o, mấy bác dậy uống trà, nói chuyện râm rang, tôi th́ nằm ĺ cho đến khi trời sáng trợt mới chịu dậy. Nằm nghe âm thanh hối hả của làng quê ở thời khắc đầu ngày, những chú gà kiến cất tiếng gáy nối đuổi nhau, rồi tiếng bước chân của những người đi làm đồng áng, họ vừa đi vừa chuyện tṛ xôn xao, tiếng những “cậu heo” ụt ịt, tiếng khịt mũi của những “bác trâu”,… và trong sâu thẳm tiếng ḷng tôi đang trỗi dậy một sức sống mănh liệt của thôn làng như sức sống những mầm cây đang vươn lên, những nụ hoa đang rộ nở giữa mùa xuân yên b́nh. Tôi liên tưởng đến một khung cảnh nhộn nhịp, tưng bừng đang diễn ra cho ngày hội được mùa trên những cánh đồng vàng óng mượt, mênh mông bát ngát, thơm lừng mùi lúa mới của bà con nông dân thật thà, chất phát đang lồ lộ niềm vui trong ánh mắt, nụ cười.

 

Đă hơn 10 năm chưa về thăm lại làng quê, nhưng h́nh ảnh thân thương của làng quê luôn ở trong tâm trí tôi, có lẽ bất kỳ người Việt nào cũng có h́nh ảnh ngôi làng trong tâm tưởng của ḿnh, một ngôi làng tâm linh của đạo lư “uống nước nhớ nguồn” ăn sâu trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam. Ôi đường về làng sao mà xa quá, chỉ 15km không ghềnh thác, không núi đồi cách trở nhưng sao tôi cứ hẹn măi, hẹn hoài,… cho đến hôm nay về thăm làng quê th́ làng đă khác xưa quá nhiều! Hầu như mọi người đều chuyển sang nghề nuôi tôm, con đường cát trắng và những chiếc cầu ngày xưa bây giờ đă được bê tông hoá phần nào, lúc màn đêm buông xuống ánh đèn nê-ông sáng trưng trong mỗi nhà và mọi gia đ́nh đă dùng nước máy thay cho nước giếng... Chỉ c̣n lối nhỏ vào nhà bác tôi vẫn c̣n nét xưa với luỹ tre xanh chạy dọc ven đường đan kết vào nhau như t́nh làng nghĩa xóm và cái đ́nh làng sừng sững giữa đất trời như một nét đặc trưng tiêu biểu của làng quê Việt Nam.

 



(1) Nhan đề một bản nhạc của Trần Trịnh– Hà Huyền Chi.

(2) Trích trong bản nhạc Lệ đá.

(3) Nhan đề một bản nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

(1) Trong bản nhạc Lệ đá của Hà Huyền Chi - Trần Trịnh.

(2) Thơ Bà Huyện Thanh Quan trong bài Thăng Long thành hoài cổ.

(3) Thơ của Ngô Kha trong trường ca Ngụ ngôn của người đăng trí.

(4) Thơ của Ngô Kha trong trường ca Ngụ ngôn của người đăng trí.

(5) Nhan đề một tập thơ của Ngô Kha

(6)Thơ của Đinh Thu trong bài Mưa làng.

(7)Trong bản nhạc T́nh xa của Trịnh Công Sơn.

(1) Trích trong bài thơ Vĩ cầm thanh của Đinh Thu, cảm hứng khi nghe thầy Trương Văn Thanh chơi Vĩ cầm trong đêm đầy tháng Lê Gia Hân con gái đầu ḷng của Hải-Lâm.

(1) , (2)  trong bài thơ Đêm mưa ở Vỹ Dạ của Thái Ngọc San tặng N.Đ.

(3) , (4)  trong bài thơ Đêm mưa ở Vỹ Dạ của Thái Ngọc San tặng N.Đ.

 

(1) Trong bài Gọi tên bốn mùa của nhạc sĩ Trịng Công Sơn.

(2), (3) Thơ Bùi Giáng.

 

(1) Sưu tầm.

 

 

chân trần

art2all.net