ĐỖ TƯ NGHĨA

 

THẾ GIỚI TÔI ĐANG SỐNG

 

CHƯƠNG VIII

THẾ GIỚI 5 GIÁC QUAN


          Những nhà thơ đă dạy chúng ta, đêm th́ đầy những kỳ diệu như thế nào; và cái đêm của sự mù ḷa, cũng có những cái tuyệt vời của nó. Cái bóng tối duy nhất không ánh sáng, là đêm của sự ngu dốt và sự vô cảm [31]. Chúng ta, người mù và người sáng, khác nhau, không phải trong giác quan của chúng ta, mà trong việc chúng ta sử dụng chúng – trong cái trí tưởng tượng và ḷng can đảm, mà với chúng, chúng ta t́m kiếm sự khôn ngoan vượt quá những giác quan của ḿnh.

Dạy kẻ ngu dốt suy nghĩ, th́ khó hơn dạy một người mù thông minh thấy cái uy nghi của thác Niagara. Tôi đă bước đi với những người sáng mắt, nhưng họ không thấy ǵ trong rừng, trên biển, hay trên bầu trời; không thấy ǵ trên những đường phố, không thấy ǵ trong những cuốn sách. Thật là một sự thấy giả tạo, vô hồn! Thật là, sẽ tốt hơn rất nhiều, nếu măi măi đi thuyền trong đêm của sự mù ḷa, với lương tri, sự cảm nhận và tâm trí, hơn là bằng ḷng với sự thấy theo cách đó. Họ có hoàng hôn, bầu trời buổi sáng, màu tím sẫm của những ngọn đồi xa, thế nhưng, linh hồn họ du hành xuyên qua cái thế giới kỳ diệu này với một cái nh́n cằn cỗi.

Tai họa của người mù th́ bao la, không cứu chữa được. Nhưng nó không lấy đi của họ những cái quan trọng – sự ân cần, t́nh bạn, sự hài hước, trí tưởng tượng, sự minh triết. Chính cái ư chí nội tại bí mật, mới là cái kiểm soát số phận của mỗi người. Chúng ta [những người mù] có năng lực để muốn trở thành người tốt, để yêu thương và để được yêu thương, để suy nghĩ cho đến cuối, rằng chúng ta có thể khôn ngoan hơn. Chúng ta sở hữu những sức mạnh phát sinh từ linh hồn, ngang hàng với tất cả những đứa con của Thượng Đế. Cũng do vậy, chúng ta thấy những tia chớp và nghe những tiếng sấm của Sinai. Chúng ta cũng đi qua hoang địa và nơi cô quạnh mà sẽ trở thành những nơi chốn vui tươi đối với chúng ta, và khi chúng ta đi qua, Thượng Đế làm cho sa mạc nở hoa giống như bông hồng. Chúng ta nữa, đi vào vùng Đất Hứa để sở hữu những kho báu của linh hồn, sự trường tồn vô h́nh của sự sống và thiên nhiên.

Kẻ mù ḷa trong linh hồn đối mặt với cái bất tri [32] và đương đầu với nó, và thế giới của người sáng làm cái ǵ khác? Anh ta có trí tưởng tượng, sự đồng cảm, nhân tính, và những hiện hữu không thể nhổ rễ này thúc bách anh ta chia sẻ, bởi một loại “ủy quyền,” một giác quan mà anh ta không có. Khi anh ta gặp những thuật ngữ về màu sắc, ánh sáng, diện mạo, anh ta phỏng đoán, t́m ra ư nghĩa của chúng bằng phương pháp loại suy, từ những giác quan mà anh ta có. Tôi tự nhiên có khuynh hướng suy nghĩ, lư luận, rút ra những suy diễn như thể tôi có 5 giác quan thay v́ chỉ có 3. Khuynh hướng này th́ vượt quá sự kiểm soát của tôi; nó phi ư chí, quen thường, có tính bản năng.

Tôi không thể ép buộc tâm trí tôi phải nói “tôi cảm thấy,” thay v́ “tôi thấy” hoặc “tôi nghe.” Khi tôi t́m kiếm những từ chính xác để mô tả những sự vật bên ngoài vốn tác động tới những giác quan thể lư của tôi, th́ cái từ “cảm thấy,” xét cho cùng, cũng có tính quy ước như từ “thấy” và “nghe.” Khi một người mất đi một cái cẳng chân, th́ bộ năo vẫn tiếp tục thúc bách anh ta sử dụng cái mà anh ta không có nhưng vẫn cảm thấy nó ở đó. Phải chăng, có thể là, bộ năo được cấu tạo theo một thể cách nào đó, khiến cho nó sẽ tiếp tục cái hoạt động vốn kích hoạt thị giác và thính giác, sau khi con mắt và cái tai đă bị hủy diệt?

Có vẻ như, 5 giác quan sẽ làm việc một cách thông minh cùng nhau, chỉ khi nào chúng cư ngụ trong cùng một cơ thể. Thế nhưng, khi 2 hay 3 giác quan bị mất đi, th́ chúng vươn ra t́m trong một cơ thể khác những cái bổ sung cho chúng, và phát hiện rằng, chúng liên kết một cách dễ dàng với cái nhóm [giác quan] được vay mượn. Khi bàn tay tôi đau nhức v́ sờ quá nhiều, tôi t́m thấy sự nhẹ nhơm trong thị giác của một người khác. Khi tâm trí tôi tụt lại phía sau, mệt mỏi với sự rán sức để có những ư tưởng về cái thế giới tối tăm, không âm nhạc, không màu sắc, th́ nó phục hồi sự đàn hồi của nó ngay khi tôi quay sang sức mạnh của một tâm trí khác vốn tri giác được ánh sáng, sự hài ḥa, màu sắc. Do vậy, nếu 5 giác qua không tách rời khỏi nhau, th́ cuộc đời của người điếc-mù cũng không thể bị cắt ĺa khỏi cuộc đời của người sáng mắt và người “sáng tai.”

Người mù-điếc có thể bị nhấn ch́m và lại bị nhấn ch́m giống như người thợ lặn của Schiller vào trong những đại dương của cái bất tri. Nhưng, không giống như vị anh hùng xấu số, anh ta trở lại, đắc thắng, nắm bắt cái chân lư vô giá rằng, tâm trí anh ta không bị tàn phế, không bị giới hạn bởi sự khiếm khuyết của những giác quan. Thế giới của con mắt và cái tai, đối với anh ta, trở thành một đề tài có tầm quan trọng lớn. Anh ta chộp lấy mọi từ chỉ thị giác và thính giác, bởi v́ những cảm giác của anh ta ép buộc điều ấy. Tuy anh ta không có chứng cứ xúc giác về ánh sáng và màu sắc, anh ta nghiên cứu chúng không sợ hăi, tin rằng, toàn bộ chân lư khả tri đối với con người, th́ mở ra với anh ta. Anh ta ở trong một vị thế tương tự như vị thế của một nhà thiên văn học kiên tŕ, kiên nhẫn, ngắm một v́ sao đêm này sang đêm nọ, trong nhiều năm, và cảm thấy được đền đáp, nếu anh ta khám phá một sự kiện duy nhất về nó. Người câm-mù với những sự vật ngoại tại b́nh thường, và người điếc-mù với cái vũ trụ vô lượng, cả hai đều bị giới hạn bởi thời gian và không gian; nhưng họ đă làm một thỏa ước : tận dụng những giới hạn của họ.

Khối lượng kiến thức về thế giới là một sự xây dựng của trí tưởng tượng. Lịch sử chỉ là một phương cách của trí tưởng tượng, nó tái hiện lại những nền văn minh đă không c̣n xuất hiện trên trái đất. Vài trong số những khám phá có ư nghĩa nhất trong khoa học hiện đại, đă dựa trên cái trí tưởng tượng của những người vốn không có kiến thức chính xác, cũng như [không có] những dụng cụ chính xác để chứng minh cho những niềm tin của họ.

Nếu thiên văn học đă không luôn đi trước kính thiên văn, th́ không ai sẽ từng nghĩ rằng đáng làm một cái kính thiên văn. Có phát minh vĩ đại nào mà không hiện hữu rất lâu trong tâm trí của nhà phát minh, trước khi ông ta cho nó một h́nh dáng có thể sờ mó được?

Một thí dụ tuyệt vời hơn về kiến thức tưởng tượng [33], là tính “thống nhất,” [34] mà với nó, nhà triết học khởi đầu sự nghiên cứu của họ về thế giới. Họ không bao giờ có thể tri giác thế giới trong cái thực tại toàn bộ của nó. Thế nhưng, trí tưởng tượng của họ – nó tự cho phép ḿnh sai lầm, và xem sự thiếu chắc chắn như là không đáng kể – đă chỉ đường cho kiến thức thực nghiệm.

Trong những khoảnh khắc sáng tạo cao vời nhất của ḿnh, nhà thơ lớn, nhạc sĩ lớn ngừng sử dụng những dụng cụ thô sơ của thị giác và thính giác. Họ bứt ḿnh ra khỏi những cái neo giác quan, bay lên trên những đôi cánh mạnh mẽ của linh hồn [35], trên những ngọn đồi sương mù và những thung lũng tối tăm của chúng ta, vào trong cơi miền của ánh sáng, âm nhạc, và trí năng.

Con mắt nào đă thấy những vinh quang của Jerusalem Mới ?[36] Cái tai nào đă nghe âm nhạc của những tầng trời, những bước đi của thời gian, những cú đánh của sự ngẫu nhiên và của sự chết? Con người không nghe với cái giác quan thể lư của họ, cái xôn xao của những giọng nói ngọt ngào trên những ngọn đồi của Judea, cũng không thấy cái linh ảnh về thiên đường; nhưng hàng triệu người đă lắng nghe cái thông điệp tâm linh đó qua nhiều thời đại.

Sự mù của chúng ta không làm thay đổi chút nào cái diễn tiến của những thực tại nội tại. Điều đó đúng với chúng ta, bởi v́ cái thế giới đẹp nhất luôn luôn bước vào [chúng ta] qua trí tưởng tượng. Nếu bạn mong trở thành một cái ǵ đó mà bạn không là – một cái ǵ đó đẹp đẽ, cao thượng, tốt lành, – th́ bạn hăy nhắm đôi mắt lại, và trong một khoảnh khắc mơ màng, bạn là cái mà bạn mong ước trở thành.


____

[31]  Rất sâu sắc và rất đúng ! 

[32]  The unknown: Cái bất tri; cái vị tri. 

[33]  Imaginative knowledge.

[34]  Unity.

[35]  Spirit. Tác giả nhắc lại sự ưu việt của linh hồn so với sự hạn hẹp của những giác quan.

[36]  The New Jerusalem.


 

 

Xem tiếp CHƯƠNG IX

 

art2all.net