ĐỖ TƯ NGHĨA

 

THẾ GIỚI TÔI ĐANG SỐNG

 

CHƯƠNG VI

KHỨU GIÁC, VỊ THIÊN THẦN BỊ ĐỌA

 
          V́ lư do không thể giải thích nào đó, khứu giác không có địa vị cao mà nó đáng được hưởng trong số những chị em của nó. Nó có vẻ là một thiên thần bị đọa. Khi nó khuyến dụ chúng ta với những mùi hương rừng và mê hoặc chúng ta với hương thơm của những khu vườn đáng yêu, th́ nó được chúng ta thẳng thắn thừa nhận. Nhưng khi nó cảnh báo chúng ta về một cái ǵ đó độc hại trong vùng lân cận của chúng ta, th́ nó bị đối xử như thể quỷ sứ đă thắng thế đối với thiên thần, và bị trừng phạt về sự phục vụ trung thành của nó. Thật rất khó mà giữ ư nghĩa thực của những từ, khi người ta thảo luận những thành kiến của loài người, và tôi thấy khó mà đưa ra một bản tường tŕnh về những cảm giác của khứu giác mà sẽ vừa “có phẩm cách,” vừa chân thực.

Trong kinh nghiệm của tôi, khứu giác là rất quan trọng, và tôi thấy rằng, có chứng cứ đáng tin cậy về sự đáng kính của cái giác quan mà chúng ta đă bỏ quên và phỉ báng này. Sử sách ghi rằng, Đức Chúa Trời ra lệnh rằng, hương trầm, với một mùi thơm dễ chịu, phải được đốt trước mặt Ngài. Tôi không rơ, liệu có cảm giác nào khởi lên từ thị giác, thú vị hơn những cái mùi được lọc xuyên qua những cành cây ấm nắng mặt trời, bị gió thổi tung bay, hay cơn thủy triều của những hương thơm phồng lên, rút xuống, lại nổi lên, làn sóng này sau làn sóng kia, đổ đầy thế giới rộng lớn với mùi thơm vô h́nh. Một mùi hương thoáng qua của vũ trụ khiến chúng ta mơ về những thế giới mà chúng ta chưa bao giờ thấy, gợi lại trong chớp mắt toàn bộ những giai đoạn của kinh nghiệm thân yêu nhất của ḿnh. Tôi không bao giờ ngửi thấy mùi hoa cúc mà không sống lại những buổi sáng ngây ngất mà cô giáo tôi và tôi đă trải qua, lang thang trên những cánh đồng, trong khi tôi học những từ mới và tên của những sự vật. Khứu giác là một vị phù thủy hùng mạnh, vận chuyển chúng ta băng qua một ngh́n dặm và mọi tháng năm mà chúng ta đă sống. Mùi của những trái cây đưa kư ức tôi đến ngôi nhà miền Nam của tôi, với những tṛ nô đùa trẻ con trong vườn đào. Những mùi khác, chớp nhoáng và chóng qua, khiến trái tim tôi giăn ra một cách vui sướng hay se thắt với nỗi sầu muộn quá khứ, khi hồi tưởng lại. Khi tôi nghĩ về những mùi, cái mũi của tôi đầy hương thơm, làm sống lại những kỷ niệm êm đềm của những mùa hè đă ra đi và những cánh đồng lúa đang chín xa xa.

Mùi hương nhẹ nhất từ một đồng cỏ, nơi mà cỏ khô mới cắt nằm dưới mặt trời nóng bức, có thể hoán chuyển cái ở đây và bây giờ. Nó đưa tôi trở lại cái kho chứa cỏ khô xưa, màu đỏ. Những người bạn bé nhỏ của tôi và tôi đang chơi đùa trong vựa chất cỏ khô. Một cái vựa khổng lồ, đầy cỏ khô gịn, thơm tho, từ cái chóp của nó, đứa trẻ bé nhất có thể với tới những cái đ̣n tay. Trong những cái chuồng phía dưới, là những con vật của nông trại. Đây là Jerry, khó bảo, xấu xí, đang nhai răng rắc những hạt lúa mạch của nó giống như một kẻ yếm thế đích thực, quyết định rằng thức ăn của nó không ngon – ít nhất, không ngon như ư nó. Một lần nữa, tôi sờ vào Brownie, bé nhỏ, háo hức, biết ơn, sẵn sàng rời bỏ món cỏ khô ngon lành nhất để đổi lấy một cái vỗ nhẹ, rướn cái cổ mảnh mai, xinh đẹp của nó, để nhận lấy một cái vuốt ve. Đứng gần đó là Quư bà Belle [25], với cái mơm dễ thương ươn ướt, đang lười biếng chiết xuất chất bổ dưỡng từ cỏ đuôi mèo và cây móng ḅ, và mơ về những đồng cỏ rậm tháng Sáu và những ḍng suối th́ thầm.

Khứu giác đă nói cho tôi biết một cơn băo đang đến, nhiều giờ trước khi có bất cứ dấu hiệu nào của nó hiện ra. Tôi nhận thấy trước hết, một sự phập phồng của sự chờ đợi, một cái run rẩy nhẹ, một sự tập trung trong mũi tôi. Khi cơn băo đến gần hơn, th́ mũi tôi giăn ra tốt hơn để tiếp nhận cơn lụt của những mùi từ mặt đất, mà có vẻ như gia bội và lan rộng ra, cho đến khi tôi cảm nhận những hạt mưa chạm vào má tôi. Khi cơn băo qua đi, rút lui mỗi lúc một xa hơn, th́ những cái mùi phai dần đi, trở thành nhẹ hơn, và mất hẳn ở phía bên kia chấn song của không gian.

Qua mùi, tôi biết cái nhà mà tôi bước vào thuộc loại nào. Tôi đă nhận ra một ngôi nhà vùng quê, kiểu cổ, bởi v́ nó có nhiều tầng mùi, để lại bởi nhiều gia đ́nh nối tiếp nhau – mùi của thảo mộc, và của chăn màn, quần áo…

Vào buổi chiều tối yên tĩnh, có ít rung động hơn so với ban ngày, và lúc bấy giờ, tôi nương dựa phần lớn vào mùi. Mùi lưu huỳnh của một cây diêm, cho tôi biết những cây đèn đang được thắp. Sau đó, tôi ghi nhận cái dấu vết chập chờn của cái mùi bay thoáng qua và biến mất. Đó là tín hiệu giới nghiêm; điện bị cúp vào ban đêm.

Ở ngoài trời, tôi ư thức được sự vật nhờ có mùi và sự xúc chạm với mặt đất mà chúng ta giẫm lên và những nơi mà chúng ta đi qua. Đôi khi, khi không có gió, th́ những cái mùi tạo thành nhóm, đến nỗi tôi biết cái tính chất của vùng quê, và có thể nhận ra một cánh đồng cỏ, một cửa tiệm vùng quê, một khu vườn, một vựa lúa, một rừng thông, một nông trang với những cửa sổ mở.

Hôm kia, tôi đi bộ về phía một khu rừng quen thuộc. Bỗng nhiên, một mùi khó chịu khiến cho tôi dừng lại, hoảng sợ. Theo sau là một rung chuyển đặc biệt, đều đặn, rồi có tiếng sấm rền nặng nề. Tôi hiểu cái mùi và cái rung chuyển này quá rơ. Những cái cây đang bị đốn xuống. Chúng tôi trèo lên bức tường đá, sang phía trái. Nó tiếp giáp với khu rừng mà tôi đă yêu mến quá lâu, đến nỗi nó dường như là vật sở hữu của riêng tôi. Nhưng hôm nay, một luồng không khí xa lạ và và một cơn bộc phát bất thường của mặt trời nói cho tôi biết rằng, những người “bạn cây” của tôi đă ra đi. Nơi đó trống rỗng, giống như một căn nhà bị bỏ hoang. Tôi dang tay ra. Nơi mà trước đây là những cây thông vững chăi, to lớn, xinh đẹp, thơm tho, th́ bàn tay tôi chạm vào những gốc cây ươn ướt, xù x́. Nằm xung quanh, là những cành găy, giống như bộ gạc của con nai bị thương. Mạt cưa thơm, chất đống, xoay ṿng và rơi rụng xung quanh tôi. Một sự oán hận tự phát, xẹt qua tôi trước sự hủy diệt tàn nhẫn cái đẹp mà tôi yêu quư. Nhưng thiên nhiên không có sự giận dữ, sự oán hận. Không khí vẫn tràn đầy những cái mùi của sự sống và của sự hủy diệt, bởi v́ sự chết song hành với với sự tăng trưởng, măi măi chăm lo cho sự sống, vốn thống trị tất cả.[26] Mặt trời vẫn chiếu sáng như bao giờ, và những cơn gió hoành hành qua những khoảng không gian vừa mới mở ra. Tôi biết rằng, một khu rừng mới sẽ lại mọc lên tại địa điểm của khu rừng cũ, cũng xinh đẹp và từ ái như vậy.

Xúc giác th́ lâu bền và xác định. Nhưng mùi th́ rẽ hướng và phù du, thay đổi về sắc độ, mức độ, và địa điểm. Có một cái ǵ đó khác trong mùi mà cho tôi một cảm thức về khoảng cách. Tôi sẽ gọi nó là chân trời – cái đường thẳng nơi mà mùi và trí tưởng tượng gặp nhau tại mức giới hạn xa nhất của khứu giác.

Khứu giác cho tôi nhiều ư tưởng hơn xúc giác hay vị giác, về cái thể cách mà trong đó thị giác hay thính giác thường thực hiện những chức năng của chúng. Xúc giác có vẻ như “cư ngụ” trong vật thể được sờ vào, bởi v́ có một sự tiếp xúc với những bề mặt. Trong khứu giác, không có khái niệm về sự chạm nổi [27], và mùi có vẻ như không “cư ngụ” trong sự vật được ngửi thấy, nhưng ở nơi giác quan. Bởi v́ tôi ngửi thấy một cái cây ở đằng xa, nên tôi có thể hiểu được rằng, người ta thấy nó mà không chạm vào nó. Tôi không thấy khó hiểu về sự kiện rằng, người ta tiếp nhận nó như một h́nh ảnh trên vơng mô của ḿnh mà không có “h́nh nổi.”Tự thân chúng, những cái mùi không gợi lên cái ǵ cả. Tôi phải học bằng liên tưởng để phán đoán chúng về khoảng cách, nơi chốn, và về những hành động hay cái môi trường quen thường đối với chúng, như người ta bảo tôi rằng, người ta phán đoán từ màu sắc, ánh sáng, và âm thanh.

Từ những cái mùi xông lên, tôi học hỏi nhiều về những con người. Tôi thường biết công việc mà họ đang làm. Những mùi của gỗ, sắt, chất sơn, và thuốc men bám vào y phục của những người làm việc với chúng. Như thế, tôi có thể phân biệt người thợ mộc với người thợ đồ sắt, người họa sĩ với người thợ nề, hay nhà hóa học.

Khi một người di chuyển nhanh từ nơi này sang một nơi khác, tôi có một ấn tượng mùi về cái nơi mà anh ta đă ở – nhà bếp, khu vườn, hay pḥng của bệnh nhân. Tôi có những ư tưởng thú vị về sự tươi mát và sự dễ chịu từ mùi của xà pḥng, y phục sạch, những chất liệu len hay lụa, và bao tay.

Quả thực, tôi không có cái khứu giác đánh hơi được mọi sự của con chó săn hay con dă thú. Không ai ngoài người què và người mù cần phải sợ kỹ năng theo đuổi của tôi; bởi v́ ngoài nước, những dấu vết quá thời, những lối đi giao nhau, c̣n có nhiều vật khác khiến cho tôi phán đoán sai lầm. Tuy nhiên, những cái mùi của con người th́ đa dạng và có thể nhận ra, như những bàn tay và những khuôn mặt. Cái mùi thân thương của những người tôi yêu mến th́ quá xác định, không thể nhầm lẫn, đến nỗi không ǵ có thể hoàn toàn xóa bỏ chúng. Tôi nghĩ rằng, nếu gặp lại một người bạn thân thiết sau nhiều năm xa cách, cho dẫu tại châu Phi, th́ tôi sẽ nhận ra cái mùi của người ấy ngay lập tức – cũng nhanh chóng như con chó của tôi có thể.

Một lần, cách đây đă lâu, trong một nhà ga xe lửa đông đúc, một quư bà hôn tôi khi bà đi vội vàng ngang qua. Tôi đă không sờ vào, thậm chí cái váy của bà. Nhưng bà để lại một mùi hương với nụ hôn của bà, nó cho tôi một “thoáng nh́n” về bà. Nhiều năm đă trôi qua kể từ khi bà hôn tôi. Nhưng cái mùi của bà vẫn c̣n tươi mới trong trí nhớ tôi.

Thật khó mà diễn tả thành lời cái mùi cá nhân, khó nắm bắt. Dường như không có vốn từ thỏa đáng về những cái mùi, và tôi phải dùng ẩn dụ và từ ngữ phỏng chừng.

Một số người có một cái mùi mơ hồ, hư hư thực thực, mà thoảng bay, giễu cợt mọi nỗ lực để nhận diện nó. Nó là con “ma trơi” của kinh nghiệm về khứu giác của tôi. Đôi khi, tôi gặp một người thiếu một cái mùi cá nhân rơ rệt, và tôi hiếm khi thấy một người như thế mà lại sống động hay thú vị. Mặt khác, một người có một cái mùi cay nồng thường sở hữu sức sống, năng lượng lớn và khí lực [lớn] của tâm trí.

Thường thường, những cái mùi của nam giới, th́ mạnh mẽ hơn, sống động hơn, và đa dạng hơn của phụ nữ. Trong cái mùi của những người trẻ, có một cái ǵ “sơ nguyên” như của lửa, cơn băo, và biển mặn. Nó phập phồng với sự lạc quan và mơ ước. Nó gợi lên mọi vật mạnh mẽ, đẹp và vui sướng, và cho tôi một cảm thức về sự hạnh phúc thể lư. Tôi tự hỏi, liệu những người khác có quan sát thấy rằng, mọi hài nhi có cùng một mùi – tinh khiết, giản dị, không thể giải mă, bởi v́ nhân cách của chúng chưa phát triển. Măi cho đến khi chúng lên 6 hay 7 tuổi, th́ chúng mới bắt đầu có những cái mùi cá nhân tri giác được. Những cái này phát triển và chín muồi cùng với những năng lực tâm thần và thể xác của chúng.

Những ǵ mà tôi đă viết về mùi, nhất là mùi của con người, có lẽ sẽ bị xem như là cái t́nh cảm “bất thường” của một kẻ không có ư tưởng nào về “thế giới của thực tại và cái đẹp mà con mắt tri giác.”

Có những người mù màu, những người điếc về âm thanh. Phần lớn người ta đều “mù và điếc” về mùi. Chúng ta không thể kết án một tác phẩm âm nhạc dựa trên bằng chứng của một cái tai vốn không thể phân biệt một hợp âm này với một hợp âm khác, hay đánh giá một bức họa bằng cái phán quyết của một nhà phê b́nh bị mù màu. Những cảm giác về mùi vốn thông báo, làm hưng phấn và nới rộng đời tôi, chúng không bớt thú vị, chỉ v́ lời phát biểu của một nhà phê b́nh nào đó, ông ta đă đi trên lối đi rộng răi, rực rỡ của thị giác, nhưng không trau dồi khứu giác. Nếu không có những cảm giác “e lệ,”[shy] thoáng qua, – thường khi không quan sát được, và sự chắc chắn mà vị giác, khứu giác và xúc giác đă cho tôi – th́ tôi buộc phải “thủ đắc” quan niệm của tôi về vũ trụ hoàn toàn từ những người khác. Tôi sẽ thiếu đi cái “thuật giả kim” [28] mà nhờ nó, tôi đưa vào thế giới của tôi ánh sáng, màu sắc, và tia lửa của Prometheus. Cái thực tại được tri giác bằng giác quan, vốn đan kết và nâng đỡ mọi sự quờ quạng của trí tưởng tượng của tôi, sẽ bị vỡ nát. Mặt đất vững chắc sẽ chảy tan từ dưới hai bàn chân tôi và tự tản mác trong không gian.Những vật thể thân yêu với hai bàn tay tôi, sẽ trở nên những vật chết, không h́nh thù, và tôi sẽ bước đi giữa chúng như giữa những con ma vô h́nh.
 

____

[25] Lady Belle. Đây là con chó của gia đ́nh Helen Keller.

[26] Tuy bị mù và điếc, nhưng nhờ có xúc giác, mà tác giả đă có được một “cái nh́n” khái quát và sâu sắc biết bao !

[27] Relievo.

[28] Alchemy: Thuật giả kim; Sự biến đổi bí ẩn
 

 

Xem tiếp CHƯƠNG VII

 

art2all.net