ĐỖ TƯ NGHĨA

 

THẾ GIỚI TÔI ĐANG SỐNG

 

CHƯƠNG IX

NHỮNG TÂM ẢNH [37]


          Theo mọi nghệ thuật, mọi ư tưởng mạch lạc của con người, chúng ta biết rằng, trật tự, sự cân đối, h́nh dáng, là những yếu tố cốt tủy của cái đẹp. Ta cũng biết, trật tự, sự cân xứng, và h́nh dáng, th́ sờ mó được. Nhưng cái đẹp và tiết nhịp th́ sâu xa hơn giác quan. Chúng giống như t́nh yêu và đức tin. Chúng khởi phát từ một quá tŕnh tâm linh, ít bị lệ thuộc vào những cảm giác.

Trật tự, sự cân xứng, và h́nh dáng không thể làm phát sinh trong tâm trí cái ư tưởng trừu tượng về cái đẹp, trừ phi đă sẵn có một linh hồn thông minh để thổi sự sống vào trong những nguyên tố [38]. Nhiều người, có đôi mắt hoàn hảo, nhưng bị mù trong những tri giác của họ. Nhiều người, có đôi tai hoàn hảo, nhưng bị điếc về mặt cảm xúc. Thế nhưng, đây chính là những người dám đặt giới hạn cho “tầm nh́n” của những người, mà tuy thiếu một hay hai giác quan, họ có ư chí, linh hồn, đam mê, trí tưởng tượng. Đức tin là một sự giễu cợt nếu nó không dạy chúng ta rằng, chúng ta có thể xây dựng một thế giới hoàn chỉnh hơn và đẹp hơn thế giới vật chất. Và tôi, nữa, có thể xây dựng cái thế giới tốt hơn của ḿnh, bởi v́ tôi là một đứa con của Thượng Đế, một kẻ thừa kế một mảnh của cái Linh Hồn vốn sáng tạo ra mọi thế giới.

Có một sự ḥa điệu của mọi sự vật, một sự pha trộn của tất cả những ǵ mà chúng ta biết về thế giới vật chất và thế giới tâm linh. Nó bao gồm, với tôi, tất cả mọi ấn tượng, rung động, nhiệt lượng, cái lạnh, mùi, vị, và những cảm giác mà những cái này truyền đạt tới tâm trí, được tổng hợp một cách vô hạn, ḥa quyện với những ư tưởng và kiến thức đă thủ đắc. Không có kẻ nào thận trọng trong suy nghĩ sẽ tin rằng, cái mà tôi đă nói về ư nghĩa của những bước chân, là đúng một cách chính xác về những rung chuyển và những chấn động đơn thuần. Nó là một dữ kiện về cái “tâm linh” trong những nguyên tố tự nhiên, những tiếng đập sờ mó được nào đó, và một kiến thức được thủ đắc về những thói quen thể lư và những nét đạo đức của những con người có mức tiến hóa cao. Những cái mùi sẽ có ư nghĩa ǵ, nếu chúng không được liên kết với thời gian của năm, cái nơi mà tôi sống, và những người mà tôi biết?

Kết quả của một pha trộn như thế, đôi khi tạo ra một chuỗi những âm thanh chói tai, chứ không phải là một là một sự ḥa điệu. Đối với những ai c̣n nghi hoặc, th́ tôi sẽ nói rằng, tôi đă cảm nhận một nhạc sĩ lên dây cây đàn vĩ cầm của anh ta, rằng tôi đă đọc về một bản giao hưởng, và do vậy, tôi có ư thức, cân nhắc khi dùng cái ẩn dụ của ḿnh. Nhưng với sự rèn luyện và kinh nghiệm, th́ những quan năng thu góp những nốt nhạc “lạc đường” và kết hợp chúng thành một toàn bộ đầy đủ, hài ḥa. Nếu kẻ nào thành tựu công việc này, th́ đó là kẻ có năng khiếu bẩm sinh đặc biệt, và tôi gọi anh ta là một nhà thơ. Những người mù và điếc không phải là những nhà thơ lớn, đúng vậy. Thế nhưng, thỉnh thoảng bạn t́m thấy một người điếc và mù mà họ đạt tới vương quốc cái đẹp của ḿnh.

Tôi có một tập thơ nhỏ của một người điếc-mù, Bertha Galeron. Thơ của bà có cái linh hoạt của tư tưởng. Khi th́ dịu dàng và êm ái, khi th́ đầy nỗi đam mê bi đát và cái hà khắc của số phận. Victor Hugo gọi bà là La Grande Voyante [40]. Bà đă viết dăm bảy vở kịch, hai trong số đó, đă được diễn tại Paris. Hàn Lâm Viện Pháp đă vinh danh tác phẩm của bà.

Những kỳ quan vô hạn của vũ trụ được phát lộ cho chúng ta, chính xác theo cái mức độ mà chúng ta có thể tiếp nhận chúng. Sự sắc bén của “cái nh́n” [41] của chúng ta không tùy thuộc vào số lượng bao nhiêu cái mà chúng ta có thể thấy, nhưng tùy thuộc vào cái mức độ mà ta cảm nhận [42]. Chỉ kiến thức không thôi, cũng không tạo ra cái đẹp. Thiên nhiên hát những bài ca tuyệt vời nhất của “bà” cho những ai yêu mến “bà.” Bà không phơi mở những bí mật của ḿnh cho những ai chỉ đến để thỏa măn cái ước muốn phân tích của họ, để thu thập những sự kiện, mà cho những ai thấy trong những hiện tượng đa dạng của “bà” những gợi ư về những t́nh cảm cao vời, tinh tế.

Phải chăng tôi không được dùng những tính từ như “tươi mát,” “lấp lánh,” “tối tăm,” và “ảm đạm”? Tôi đă đi dạo trên những cánh đồng vào buổi sáng sớm. Tôi đă cảm nhận một bụi hoa hồng nặng trĩu sương và hương thơm. Tôi đă cảm nhận những đường cong và sự duyên dáng của con mèo của tôi, khi nó đang nô đùa. Tôi đă biết cái điệu bộ dễ thương, e lệ của những đứa trẻ nhỏ. Tôi đă biết cái đối lập buồn bă của những cái này, một bức tranh rùng rợn, “thấy” được bằng xúc giác. Hăy nhớ rằng, đôi khi tôi đă đi bộ trên một con đường bụi bặm, xa như hai bàn chân tôi có thể đi. Bỗng nhiên, tại một chỗ rẽ đột xuất, tôi đă giẫm lên những cây cỏ dại cằn cỗi, và dang tay ra, tôi đă chạm vào một cái cây đẹp, bị một loài tầm gửi “hút máu” như một con ma cà rồng. Tôi đă sờ vào một con chim xinh đẹp mà đôi cánh mềm của nó cứng đơ, trái tim nhỏ bé của nó không c̣n đập nữa. Tôi đă khóc trước cái sự yếu ớt và sự dị dạng của một đứa trẻ – bị què, mù bẩm sinh, hoặc, tệ hơn nữa, bị bại năo. Nếu tôi có thiên tài của Thomson, th́ tôi cũng có thể mô tả “Thành phố của Đêm Hăi hùng” từ chỉ những cảm giác của xúc giác. Từ những tương phản không thể ḥa giải, phải chăng, chúng ta không thể h́nh thành một ư tưởng về cái đẹp và biết chắc chắn khi nào chúng ta gặp sự đáng yêu?

Đây là một bài sonnet, cho thấy một cách hùng biện khả năng “nh́n thấy” của một người mù:

NÚI NÓI VỚI CÂY THÔNG

Nhà ngươi, vị quốc vương uy nghi của khu rừng,
Đứng ở nơi mà không cây leo dại nào dám ḅ lên,
Người ta gọi ngươi là lăo trượng, và nói rằng ngươi đă đứng
một thế kỷ trên sườn dốc hiểm trở của ta;
Nhưng với ta, đời ngươi chỉ là một ngày,
Khi ta nhớ lại những sự vật mà ta đă thấy –
Những quốc vương của rừng mà đă qua đi
trên cái địa điểm, nơi mà lần đầu tiên ta thấy màu xanh của ngươi;
Bởi v́ ta già hơn tuổi của con người,
hoặc mọi sinh vật trườn hay ḅ trên đất,
hoặc những con chim của không trung, hoặc những sinh vật của đại dương;
Ta là bản đề cương mờ nhạt đầu tiên của kế hoạch của Thượng đế:
Chỉ có biển cả không ngừng nghỉ
Và những ngôi sao vô hạn trên bầu trời, là già đối với ta
.
 

 

Tôi vui v́ bạn tôi, ông Stedman biết bài thơ đó trong khi ông đang làm cuốn Tuyển Tập của ông; bởi v́, khi đă biết nó, th́ một nhà thơ và nhà phê b́nh văn học xuất sắc không thể không cho nó một chỗ trong kho tàng của thi ca Mỹ. Nhà thơ, ông Clarence Hawkes, đă bị mù từ thời thơ ấu; thế nhưng, ông t́m thấy trong thiên nhiên những gợi ư về những kết hợp cho những bức tâm ảnh của ḿnh. Từ kiến thức và những ấn tượng đến với ông, ông xây dựng một kiệt tác vốn “treo” trên những bức tường của tư tưởng ông. Và mọi linh hồn đích thực của thế giới bước vào ngôi nhà của nhà thơ.

Thật hiếm có một nhà thơ mà nghĩ về núi như là “bản đề cương mờ nhạt đầu tiên của kế hoạch của Thượng Đế.” Đó là cái tuyệt vời đích thực của bài thơ, và không phải là cái mà một người mù sẽ nói một cách quá tự tin về bầu trời và biển. Những ư tưởng của chúng tôi về bầu trời là một sự tích lũy của những thoáng nh́n của xúc giác, những ám chỉ văn học, và những quan sát của những người khác, với một sự pha trộn về cảm xúc của tất cả. Khuôn mặt tôi chỉ cảm nhận một phần nhỏ của bầu không khí; nhưng tôi đi xuyên qua không gian liên tục và cảm nhận làn không khí ở mọi điểm, mọi khoảnh khắc. Người ta cho tôi biết cái khoảng cách từ trái đất tới mặt trời, tới những hành tinh khác, và tới những định tinh. Tôi nhân lên một ngàn lần cái chiều cao và chiều rộng tối đa mà mà xúc giác của tôi cảm nhận được, và như thế, tôi có một cảm thức sâu xa về cái bao la của bầu trời [43].

Nếu bạn di chuyển tôi, một cách thường trực, qua nước, nước, không ǵ ngoài nước, th́ bạn sẽ cho tôi cảm giác về sự cô độc, cái bao la của đại dương, vốn đổ đầy con mắt. Tôi đă từng ở trên một chiếc thuyền buồm nhỏ bé trên biển, khi con sóng thủy triều quét nó về phía bờ. Phải chăng tôi không hiểu cái văn ảnh của nhà thơ : “Màu xanh của mùa xuân chảy trào ra mặt đất giống như một cơn thủy triều” ? Tôi đă cảm nhận ngọn lửa của một cây nến chập chờn trong một làn gió nhẹ. Vậy th́, phải chăng tôi không thể nói: “Vô số những con đom đóm bay đó đây trong cỏ ướt sương, giống như những cây nến chập chờn”?

Nếu bạn kết hợp cái không gian vô tận của bầu không khí, hơi ấm của mặt trời, những đám mây được mô tả cho tôi, sự bứt ḿnh thường xuyên qua đất của một con suối hay khoảng rộng của mặt hồ gợn sóng, sự nhấp nhô sờ mó được của những ngọn đồi – mà tôi nhớ lại khi tôi rời xa chúng, những cái cây cao ngất nghểu khi tôi dạo bước ngang qua chúng, cái phương hướng mà tôi cố giữ trong khi những người khác bảo cho tôi biết hướng của những phong cảnh khác nhau – th́ bạn sẽ bắt đầu cảm thấy chắc chắn hơn về cái phong cảnh trong trí tưởng tượng của tôi. Cái giới hạn xa nhất mà ư tưởng của tôi sẽ đi tới với sự rơ ràng, là cái chân trời của tâm trí tôi. Từ cái chân trời này, tôi tưởng tượng ra cái chân trời mà con mắt đánh dấu để định vị.

Xúc giác không thể bắc cầu khoảng cách – nó chỉ thích hợp cho sự tiếp xúc với những bề mặt – nhưng ư tưởng nhảy qua cái vực sâu đó. V́ lư do này, tôi có thể sử dụng những từ mô tả những vật xa khỏi những giác quan của tôi. Tôi đă cảm thấy sự tṛn trịa trong h́nh dáng mỏng manh của một hài nhi. Tôi có thể áp dụng cái tri giác này vào phong cảnh và những ngọn đồi xa xa.
 


____

[37]  Inward visions.

[38]  Elements.

[39]  Vision.

[40]  Nhà Thấu Thị Vĩ Đại.

[41]  Our vision.

[42]  Đây là một nhận xét rất sâu sắc. Do vậy, cần phân biệt số lượng và mức độ cảm thụ của những kinh nghiệm sống của ḿnh.


 

 

Xem tiếp CHƯƠNG X

 

art2all.net