ĐỖ TƯ NGHĨA

 

THẾ GIỚI TÔI ĐANG SỐNG

 

CHƯƠNG II

BÀN TAY CỦA KẺ KHÁC

 
          Hơi ấm và sự che chở của bàn tay là cái thấm thía đối với tôi, kẻ luôn hướng về nó để t́m kiếm sự trợ giúp và niềm vui. Tôi hoàn toàn hiểu, như thế nào mà tác giả của Thánh Vịnh có thể cất tiếng với sức mạnh và sự vui mừng, hát rằng: “Tôi đặt sự tin cậy của tôi vào Đức Chúa Trời trong mọi lúc, và bàn tay Ngài sẽ bảo vệ tôi, và tôi sẽ cư ngụ trong sự an ninh.” Trong sức mạnh của bàn tay con người, cũng có một cái ǵ đó thiêng liêng. Tôi được cho biết rằng, cái liếc nh́n của đôi mắt thân yêu gây cho người ta sự xúc động từ một khoảng cách; nhưng không có khoảng cách nào trong cái xúc chạm của một bàn tay yêu dấu. Ngay cả những lá thư tôi nhận, th́ “những lá thư nhân ái biểu lộ cái lịch sử sâu xa của trái tim / mà trong đó, chúng ta cảm nhận sự có mặt của một bàn tay.”

Thật thú vị khi quan sát những khác biệt trong những bàn tay của những con người. Chúng cho thấy mọi loại sức sống, năng lượng, sự tĩnh lặng, và sự thân t́nh. Tôi không bao giờ nhận thức được rằng, bàn tay th́ sống động ra sao, cho đến khi tôi “thấy” những bức tượng bằng bột thạch cao lạnh giá trong bộ sưu tập của ông Hutton. Bàn tay mà tôi biết trong đời, có sự tràn đầy của máu trong huyết quản, và linh động, có linh hồn. Bàn tay của ông Hutton th́ khác biết bao, so với với những bức tượng buồn tẻ, vô tri giác của bộ sưu tập đó! Đối với tôi, cái bộ sưu tập đó thiếu chính cái h́nh dáng của bàn tay.Trong số nhiều “h́nh ảnh” trong bộ sưu tập của ông, tôi không nhận ra một h́nh ảnh nào, thậm chí, của chính tôi. Nhưng có một bàn tay đầy yêu thương mà tôi không bao giờ quên. Tôi nhớ, trong những ngón tay tôi, hai bàn tay to bè của Giám mục Brooks, tràn đầy ḷng âu yếm và niềm vui của một con người mạnh mẽ. Nếu bạn bị điếc và mù, và có thể nắm bàn tay ông Jefferson, bạn đă có thể thấy trong nó một khuôn mặt và nghe một giọng nói nhân ái không giống như bất cứ giọng nói nào mà bạn đă biết. Bàn tay của Mark Twain [13] th́ đầy sự kỳ dị và sự hài hước buồn cười nhất, và trong khi bạn nắm lấy nó, sự buồn cười biến thành sự đồng cảm và sự che chở.

The Medallion
The bas-relief on the wall is a portrait of the Queen Dowager of Spain, which Her Majesty had made for Miss Keller

 

Người ta bảo tôi rằng, những ḍng chữ mà tôi vừa mới viết, không “mô tả” những bàn tay của các bạn tôi, nhưng chỉ gán cho chúng những phẩm chất nhân ái của con người mà tôi rằng biết họ sở hữu, và ngôn ngữ diễn đạt chúng bằng những từ trừu tượng.

Lời chỉ trích đó hàm ư rằng, tôi không đang đưa ra cái sự thật “nguyên thủy” về những ǵ mà tôi cảm thấy; nhưng những mô tả trong những cuốn sách mà tôi đọc – được viết bởi những người sáng mắt – chúng diễn tả như thế nào cái dáng vẻ hữu h́nh của một khuôn mặt? Tôi đọc thấy rằng, một khuôn mặt th́ mạnh mẽ, dịu dàng; rằng nó đầy trí tuệ, đầy ḷng kiên nhẫn; rằng nó dễ thương, cao thượng, đẹp đẽ. Phải chăng tôi không có quyền sử dụng những từ này để mô tả những ǵ mà tôi cảm thấy, bởi v́ tôi không sáng mắt như bạn? Chúng thực sự diễn đạt những ǵ mà tôi cảm thấy trong bàn tay. Tôi ít khi nhận biết về những tính chất vật lư, và tôi không nhớ là những ngón tay của một bàn tay là ngắn hay dài, hoặc làn da ướt hay khô. Bạn cũng không – nếu không có nỗ lực của ư thức – nhớ lại những chi tiết của một khuôn mặt, ngay cả khi bạn đă nh́n thấy nó nhiều lần. Nếu bạn thực sự nhớ lại những sắc thái đó, và nói rằng, một con mắt màu xanh da trời, một cái cằm nhọn, một cái mũi ngắn, hoặc một g̣ má hốc hác, th́ tôi cho rằng, bạn không thành công trong việc đưa ra những ấn tượng về người đó. Cho dẫu bạn mô tả những chi tiết của khuôn mặt đó, th́ sự mô tả đó cũng không cho thấy những phẩm chất tinh thần cốt yếu của nó – cái hài hước, sự nghiêm nghị của nó, nỗi buồn, tính tâm linh [14] của nó. Nếu tôi sẽ nói với bạn bằng những từ ngữ có tính vật lư, một bàn tay cho cảm giác ra sao, th́ sự tường thuật của tôi cũng không khiến cho bạn thấy rơ hơn, so với khi bạn mô tả cho một người mù, một cách chi tiết, một khuôn mặt nào đó.

Hăy nhớ rằng, khi một người mù phục hồi thị giác của ḿnh, th́ người ấy không nhận ra cái điều b́nh thường nhất vốn đă từng quen thuộc đối với xúc giác của anh ta – cái khuôn mặt thân yêu nhất, thâm t́nh với những ngón tay anh ta, và, cho dẫu những sự vật và những con người được mô tả cho bạn một cách lặp đi lặp lại, th́ nó cũng không trợ giúp được ǵ. Do vậy, bạn, kẻ không được rèn luyện về về xúc giác, không nhận ra bàn tay bằng một cái xiết chặt; và bất cứ sự mô tả nào mà tôi có thể đưa ra, sẽ không làm cho bạn quen với một bàn tay thân thiện mà thường đan lấy bàn tay tôi, và được ghi vào trong kư ức của tôi.

Tôi không thể mô tả, phân loại những bàn tay thành bất cứ giai cấp hay loại người nào; nhưng không có sự giống nhau giữa những bàn tay. Một vài bàn tay nói cho tôi biết rằng, chúng làm mọi sự với sự xô bồ và ồn ào tối đa. Những bàn tay khác th́ bồn chồn và khinh suất, với những ngón tay lo lắng, rối rít, cho thấy một bản tính nhạy cảm trước những tổn thương nhỏ bé của đời sống thường nhật. Đôi khi, với linh tính, tôi nhận ra bàn tay nhân ái nhưng ngu xuẩn của một kẻ ba hoa, thông báo những tin tức quá ư vặt vănh. Tôi đă gặp một giám mục với một bàn tay có chất hài hước; một kẻ hài hước với một bàn tay nghiêm nghị; một người đàn ông tự cho ḿnh là dũng cảm với một bàn tay rụt rè, và một người đàn ông ít nói, hay nói lời xin lỗi, với một nắm đấm bằng sắt. Khi tôi c̣n rất bé, tôi được đưa tới gặp một người phụ nữ mù và bại liệt. Tôi sẽ không bao giờ quên cái cách mà bà ch́a bàn tay nhỏ bé, run rẩy của bà ra và ép nó vào bàn tay tôi với niềm đồng cảm. Đôi mắt tôi mờ lệ khi tôi nghĩ đến bà. Sự mệt mỏi, sự đau đớn, bóng tối và ḷng kiên nhẫn dịu dàng, là những ǵ mà tôi cảm nhận được trong bàn tay gầy, hao ṃn, ṃ mẫm và đầy yêu thương của bà.

Tôi nghĩ, một số người mà không biết tôi, sẽ không hiểu tôi nắm bắt bao nhiêu về tâm trạng của một người bạn đang tham gia đàm thoại [bằng miệng] với một ai khác. Bàn tay tôi dơi theo những chuyển động của anh ta; tôi sờ vào bàn tay, cánh tay, khuôn mặt anh ta. Tôi có thể nói khi nào anh ta thích chí về một câu nói đùa dí dỏm mà đă không được lặp lại cho tôi, hoặc khi nào anh ta đang kể một câu chuyện hào hứng. Một trong những người bạn của tôi th́ hơi gây hấn, và bàn tay anh ta luôn luôn báo tin sắp xảy ra một cuộc căi vă. Bằng cái giật mạnh nóng nảy của anh ta, tôi biết anh ta sắp tranh căi với một ai đó. Tôi đă cảm thấy anh ta giật nẩy người lên khi một hồi ức đột xuất hay một ư kiến mới bắn qua tâm trí anh ta. Tôi đă cảm nhận nỗi sầu muộn trong bàn tay anh ta. Tôi đă cảm nhận linh hồn anh ta tự gói ḿnh trong bóng tối một cách bệ vệ như trong một bộ y phục. Một người bạn khác có hai bàn tay quả quyết, chứng tỏ sự cương quyết lớn trong quan niệm. Cô ta là người duy nhất mà tôi biết, thường nhấn mạnh những lời cô nói ra bằng miệng, khi tôi đọc môi cô; khi đánh vần vào bàn tay tôi, cô cũng nhấn mạnh như vậy. Tôi thích sự nhấn mạnh đa dạng này hơn là tiếng đập đều đều buồn tẻ của những người đánh vần vào bàn tay tôi như nện búa.

Một vài bàn tay, khi chúng xiết chặt bàn tay bạn, bừng sáng và sôi lên với sự vui mừng. Chúng phập phồng và giăn ra với sức sống. Một vài người lạ đă xiết chặt bàn tay tôi như thể đó là bàn tay của một đứa em thất lạc đă lâu. Những người khác, đă bắt tay với tôi như thể họ sợ rằng, tôi có thể gây tổn thương cho họ. Những người như thế ch́a những đầu ngón tay mà họ cho phép bạn sờ vào, và trong khoảnh khắc xúc chạm, họ rút lui, và trong thâm tâm, bạn hy vọng rằng, bạn sẽ không bao giờ được yêu cầu phải một lần nữa nắm lấy bàn tay đó. Nó là dấu hiệu của một tâm hồn ưa kiểu cách, kiêu ngạo lố bịch, và không hiếm khi, đa nghi. Nó đối nghịch với bàn tay của những người có bản chất phóng khoáng, đáng yêu.

Cái bắt tay của vài người khiến bạn nghĩ đến tai nạn và cái chết bất đắc kỳ tử. Hăy đối chiếu bàn tay báo điềm dữ này với bàn tay lặng lẽ, nhanh nhẹn, khéo léo của một cô nữ điều dưỡng mà tôi nhớ đến với ḷng cảm mến, bởi v́ cô tận tụy chăm sóc cô giáo của tôi. Tôi đă xiết chặt những bàn tay của vài người giàu, không phải lao nhọc, và thế nhưng, không đẹp. Bên dưới cái tṛn trịa mềm mại, mịn màng của chúng, ẩn chứa biết bao sự hỗn độn của một tính cách chưa phát triển!

Tôi chắc rằng, không có bàn tay nào có thể so sánh với bàn tay của vị y sĩ, trong kỹ năng kiên nhẫn, sự dịu dàng nhân từ và sự đích xác tuyệt vời. Thảo nào mà Ruskin t́m thấy trong những nhát dao chính xác của nhà phẫu thuật, sự hoàn hảo của sự kiểm soát và sự chính xác tinh tế cho nhà nghệ sĩ tranh đua. Nếu nhà y sĩ là một người có tâm hồn vĩ đại, th́ trong cái xúc chạm của ông, có sự chữa trị cho linh hồn. Cái xúc chạm thần kỳ này, đến từ bàn tay của một người bạn thân mến của tôi, ông là vị bác sĩ của chúng tôi trong lúc bệnh hoạn hay mạnh khỏe. Cái tinh thần thân ái, hạnh phúc của ông tác động tốt đến những bệnh nhân của ḿnh, bất luận họ có cần thuốc men hay không.

Khuôn mặt có nhiều vẻ đẹp; bàn tay cũng vậy. Xúc giác có những cơn xuất thần của nó. Những người có cá tính mạnh mẽ và nhạy cảm, th́ linh hoạt một cách kỳ diệu. Trong một thoáng của những đầu ngón tay họ, chúng diễn tả nhiều cung bực của ư tưởng. Thỉnh thoảng, tôi sờ vào một bàn tay đẹp, nhă nhặn, cổ tay mềm dẻo – nó đánh vần [vào bàn tay tôi] với vẻ đẹp và sự độc đáo mà bạn thường thấy trong thủ bút của vài người có văn hóa. Tôi mong ước rằng, bạn có thể thấy những đứa trẻ nhỏ đánh vần vào bàn tay tôi một cách đáng yêu ra sao. Chúng là những bông hoa dại của nhân loại, và những chuyển động ngón tay của chúng là những bông hoa dại của ngôn ngữ.

Những điều nói ở trên là nghệ thuật “xem bàn tay” của riêng tôi, và khi tôi “coi bói” cho bạn, th́ nó không phải là trực giác huyền bí hay pháp thuật của những người gipsy, mà bởi sự nhận ra tự nhiên, giải thích được, về cái tính cách được khắc lên bàn tay bạn.

Bàn tay không chỉ dễ nhận ra như khuôn mặt, mà nó c̣n phát lộ những bí mật của nó một cách công khai và vô ư thức hơn. Người ta kiểm soát khuôn mặt họ, nhưng bàn tay th́ không bị kềm chế như thế. Nó thư giăn và trở nên thờ ơ khi tinh thần bị xuống thấp và thất vọng; những bắp thịt căng thẳng khi tâm trí bị kích động hay khi trái tim vui mừng; và những tính chất thường hằng được viết trên nó trong mọi lúc.


_____

[13] Mark Twain [1835 – 1910) : Nhà văn hoạt kê nổi tiếng của Mỹ.

[14] Spirituality.
 

Xem tiếp CHƯƠNG III

art2all.net