|
Lê Duy Đoàn
ĐẶC SAN QUỐC
HỌC HUẾ 2016

TÔI HỌC CỤM TỪ
"CỦA DÂN, DO DÂN, VÀ
V̀ DÂN"
TẠI TRƯỜNG QUỐC HỌC
Trần Ngọc Cư
Năm Đệ nhất (bây giờ gọi là
lớp 12) niên khóa 1963-64, lớp B9 (chuyên Toán-Lư-Hóa) của chúng tôi học
Anh văn với Giáo sư Nguyễn Đức Mai. Trước 75 các thầy cô dạy Trung học
đều được gọi là giáo sư, một chức danh được dịch từ chữ professeur mà
người Pháp dùng để gọi các giáo viên Cấp 2 và Cấp 3. Thầy Nguyễn Đức Mai
là một giáo sư trẻ, tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế, ban Anh văn ngành Đệ
nhị cấp (được đào tạo dể dạy trường cấp 3). Một giáo sư năng động và
nhiệt t́nh, thầy thường bắt đầu giờ học bằng các câu chuyện dí dỏm liên
quan đến tiếng Anh, tạo không khí thoải mái trước khi đi vào bài học.
Anh văn và Pháp văn, mặc dù đối với dân ban B, có hệ số thấp hơn so với
Toán-Lư-Hoá, nhưng chúng tôi vẫn học những môn này khá nghiêm túc. Lư do
là ai cũng có tham vọng vào đại học hoặc đi du học nước ngoài -- những
môi trường lúc bấy giờ không dành chỗ cho những người kém tiếng Anh hoặc
tiếng Pháp. Các siêu sao của lớp chúng tôi như Phạm Lâm, Nguyễn Tấn Phục,
Nguyễn Quốc Vọng, Tôn Thất Thung (tôi có thể kể sót) được các Chính phủ
Úc, Canada, Nhật Bản, Đức cấp học bổng du học ngay sau khi lấy xong Tú
tài II (tốt nghiệp cấp 3).
Các quan chức của Bộ Giáo dục VNCH thời đó phần lớn được đào tạo dưới
thời Pháp thuộc hoặc tốt nghiệp từ các đại học Pháp. Có lẽ v́ thế mà
chương tŕnh Toán Lư Hóa cho các “lớp Tú tài” lúc bấy giờ hiện nguyên
h́nh là một phiên bản của chương tŕnh Pháp. Mặc dù sách giáo khoa Trung
học được soạn bằng tiếng Việt, nhưng các sách luyện thi mà chúng tôi mua
thêm từ các nhà sách để làm bài tập đều có những đề thi Tú tài dành cho
thí sinh tại Pháp hoặc các nước nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Các bạn
ban B mà sinh ngữ chính là Pháp văn c̣n có khả năng giải các bài toán
trong các sách Toán của C. Lebossé, một soạn giả sách Toán nổi tiếng của
Pháp. Thật chẳng đáng ngạc nhiên, nhờ tŕnh độ Tú tài Toán-Lư-Hóa thời
VNCH, một số lượng đông đảo cựu công chức và sĩ quan VNCH ra nước ngoài
sau năm 1975 đă theo học các ngành kỹ sư và điện toán khá dễ dàng.
Nhưng ảnh hưởng của chương tŕnh Pháp trong các môn Toán-Lư-Hóa không
phải là một trường hợp ngoại lệ. Hai sách giáo khoa Anh văn cho năm đệ
Nhị (Tú tài I) là L’anglais par la conversation và năm đệ Nhất (Tú tài
II) là La vie en Amérique đều là những sách được dùng trong các lớp
tương đương tại Pháp. Phần lớn các lớp đệ Nhất cấp (bây giờ gọi là Trung
học Cơ sở) sử dụng cuốn L’anglais vivant, về sau được Nhà xuất bản Lê Bá
Kông mua bản quyền và in tại Sài G̣n.
Qua cuốn La vie en amérique, Giáo sư Nguyễn Đức Mai giới thiệu với lớp
chúng tôi một số truyện ngắn của các tác giả Mỹ như O’Henry, Ernest
Hemingway, John Steinbeck, thơ của Langston Hughes, v.v.. Đặc biệt thầy
Nguyễn Đức Mai đă cho học sinh học thuộc ḷng trong sách nhan đề “The
Gettysburg Address,” một bài điếu văn dài vỏn vẹn 272 chữ của Tổng thống
Abraham Lincoln, trong đó có cụm từ “of the people, by the people, and
for the people” (của dân, do dân, và v́ dân) thường được trích dẫn rộng
răi từ Đông sang Tây trên 150 năm nay.
Trong những gần đây, cụm từ này cũng thường xuất hiện trên các văn kiện
quốc gia cũng như báo chí tại Việt Nam. Người viết bài này xin mạo muội
tŕnh bày bối cảnh lịch sử và chuyển ngữ bài diễn văn mà vị tổng thống
thứ mười sáu của Hoa Kỳ đă đọc trong lễ khánh thành nghĩa trang quốc gia
Gettysburg.
Gettysburg là tên một thành phố nhỏ của bang Pennsylvania, thuộc về lănh
thổ miền Bắc trong cuộc nội chiến Nam-Bắc Hoa Kỳ. Từ mùa Xuân 1863, quân
miền Bắc và quân miền Nam quần thảo nhau trên một địa bàn rộng lớn nằm
hai bên bờ sông Potomac. Mặc dù với một quân số 75 ngàn, đối đầu với 125
ngàn Bắc quân, Tướng Robert Lee của miền Nam quyết giữ thế tiến công,
đưa quân vượt sông Potomac và triển khai trên một ṿng cung dài 80 km ở
Nam Pennsylvania. Lee bất chấp sức ép to lớn của Bắc quân thường xuyên
đè nặng lên cánh phải của quân ḿnh. Vào ngày 1-7-1863, một sư đoàn Nam
quân tiến vào thành phố Gettysburg với mục đích lùng sục để kiếm giày,
nhưng sau đó đụng độ với hai lữ đoàn kỵ binh của Bắc quân ở phía đông
bắc thành phố. Cả hai đối thủ đều xin quân tiếp viện. Thế là như những
mảnh sắt vụn bị hút vào một cục nam châm, hai đại quân hội tụ trên chiến
địa này. Đánh nhau ba ngày liên tiếp, quân miền Nam chịu những tổn thất
nặng nề sau những đợt tiến công táo bạo, nhưng đều bị đẩy lùi; trong khi
quân miền Bắc vẫn giữ được pḥng tuyến. Sáng ngày 4 tháng 7 là ngày Quốc
khánh Hoa kỳ, cả hai đội quân đều mệt nhừ, binh lính chỉ c̣n nước chống
lên vũ khí để lấy lại sức. Nếu quân miền Bắc phản công lúc đó, có thể họ
đă gây tổn thất ghê gớm cho quân miền Nam, một tổn thất vượt ngoài mức
có thể gượng dậy được. Nhưng Tướng tư lệnh George G. Meade của Bắc quân
đă do dự và để mất cơ hội có tính quyết định này. Ngày 5-7 Lee rút quân
về vùng an toàn. Lần đầu tiên Tướng Lee rơ ràng bị đánh bại trên chiến
trường. Gettysburg đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong Nội chiến
Hoa Kỳ, v́ sau đó quân miền Nam không c̣n dám xâm nhập miền Bắc.
Hơn bốn tháng sau, ngày 19-11-1863, Tổng thống Abraham Lincoln đến làm
lễ khánh thành cho một nghĩa trang quốc gia trên phần đất của chiến địa
Gettysburg. Tại đây ông đọc một bài diễn văn chỉ dài trên 2 phút đồng hồ,
trong đó xuất hiện cụm từ bất hủ, “chính phủ của dân, do dân và v́ dân.”
Giá trị văn chương của bài diễn văn nội tại ở một bút pháp vừa giản dị,
trong sáng, vừa súc tích. Nhưng nét đặc sắc mà hậu thế có thể t́m thấy ở
nhân cách của Lincoln là tính nhân văn của một lănh đạo chính trị. Mặc
dù khói lửa chiến tranh giữa hai miền Nam, Bắc vẫn c̣n ngùn ngụt cháy,
các trận đánh vẫn c̣n diễn ra ác liệt giữa hai quân đội, nhưng suốt bài
diễn văn Lincoln không hề có một lời miệt thị dành cho đối phương theo
giọng điệu chiến tranh tâm lư mà chúng ta thường thấy trong các cuộc
xung đột vũ trang.

Diễn
văn Gettysburg
Tổng thống Abraham Lincoln đọc
tại lễ khánh thành Nghĩa trang Quốc gia tại
Gettysburg, ngày 19-11-1863:
Tám mươi bảy năm về trước cha ông chúng ta đă khai
sinh trên lục địa này một quốc gia mới, một quốc gia được thai nghén
trong tự do và được cống hiến cho triển vọng mọi người sinh ra đều b́nh
đẳng.
Bây giờ chúng ta đang lâm vào một cuộc nội chiến lớn, thử nghiệm xem
quốc gia này, hay bất cứ quốc gia nào được thai nghén như thế hay được
cống hiến như thế, có thể trường tồn hay không. Chúng ta đang gặp nhau
trên một chiến trường lớn của cuộc chiến này. Chúng ta đến đây để hiến
dâng một phần của chiến địa làm nơi an nghỉ cuối cùng cho những người đă
hi sinh tính mạng nơi đây để cho quốc gia này có thể sống c̣n. Đây là
một việc hoàn toàn phù hợp và chính đáng mà chúng ta phải làm.
Nhưng, trong một ư nghĩa rộng lớn hơn, chúng ta không đủ tư cách để hiến
dâng, chúng ta không thể thánh hóa, chúng ta không thể tôn vinh mảnh đất
này. Những chiến sĩ can trường, hiện c̣n sống hay đă chết, những người
từng chiến đấu nơi đây, đă thánh hóa nó vượt quá tầm mức mà khả năng kém
cỏi của chúng ta có thể thêm hay bớt. Thế giới sẽ ít lưu ư, thậm chí
không nhớ lâu, những điều chúng ta nói ở đây; nhưng thế giới sẽ không
bao giờ quên được những ǵ mà các chiến sĩ đă thể hiện nơi đây. Nói đúng
hơn, chính chúng ta, những người c̣n sống tại đây phải cống hiến cho
công việc c̣n dang dở, một công việc mà các người chiến đấu nơi đây đă
cao cả tiến hành cho đến lúc nằm xuống. Nói đúng hơn, chúng ta đến đây
nguyện cống hiến cho nhiệm vụ to lớn c̣n lại trước mắt -- rằng từ sự
thôi thúc của những anh linh hiển hách này, chúng ta nguyện sẽ tận tụy
hơn nữa cho chính nghĩa mà họ đă tận tụy phục vụ đến hơi thở cuối cùng
-- rằng tại nơi đây chúng ta nêu cao quyết tâm là các liệt sĩ này đă
không chết vô ích -- rằng quốc gia này, dưới sự quan pḥng của Thượng Đế,
nhất định sẽ khai sinh lại nền tự do của ḿnh -- và rằng chính phủ của
dân, do dân và v́ dân nhất định sẽ không biến mất từ mặt trái đất.
Trần Ngọc Cư

|
Gettysburg Address |
Diễn văn Gettysburg |
|
Four score and seven years ago our fathers brought forth on
this continent a new nation, conceived in liberty, and dedicated
to the proposition that all men are created equal.
Now we are engaged in a great civil war, testing whether that
nation, or any nation so conceived and so dedicated, can long
endure. We are met on a great battlefield of that war. We have
come to dedicate a portion of that field, as a final resting
place for those who here gave their lives that that nation might
live. It is altogether fitting and proper that we should do
this.
But, in a larger sense, we can not dedicate, we can not
consecrate, we can not hallow this ground. The brave men, living
and dead, who struggled here, have consecrated it, far above our
poor power to add or detract. The world will little note, nor
long remember what we say here, but it can never forget what
they did here. It is for us the living, rather, to be dedicated
here to the unfinished work which they who fought here have thus
far so nobly advanced. It is rather for us to be here dedicated
to the great task remaining before us—that from these honored
dead we take increased devotion to that cause for which they
gave the last full measure of devotion—that we here highly
resolve that these dead shall not have died in vain—that this
nation, under God, shall have a new birth of freedom—and that
government of the people, by the people, for the people, shall
not perish from the earth.
Abraham Lincoln
|
Tám mươi bảy năm về trước cha ông chúng ta đă khai sinh trên
lục địa này một quốc gia mới, một quốc gia được thai nghén trong
tự do và được cống hiến cho triển vọng mọi người sinh ra đều
b́nh đẳng.
Bây giờ chúng ta đang lâm vào một cuộc nội chiến lớn, thử nghiệm
xem quốc gia này, hay bất cứ quốc gia nào được thai nghén như
thế hay được cống hiến như thế, có thể trường tồn hay không.
Chúng ta đang gặp nhau trên một chiến trường lớn của cuộc chiến
này. Chúng ta đến đây để hiến dâng một phần của chiến địa làm
nơi an nghỉ cuối cùng cho những người đă hi sinh tính mạng nơi
đây để cho quốc gia này có thể sống c̣n. Đây là một việc hoàn
toàn phù hợp và chính đáng mà chúng ta phải làm.
Nhưng, trong một ư nghĩa rộng lớn hơn, chúng ta không đủ tư cách
để hiến dâng, chúng ta không thể thánh hóa, chúng ta không thể
tôn vinh mảnh đất này. Những chiến sĩ can trường, hiện c̣n sống
hay đă chết, những người từng chiến đấu nơi đây, đă thánh hóa nó
vượt quá tầm mức mà khả năng kém cỏi của chúng ta có thể thêm
hay bớt. Thế giới sẽ ít lưu ư, thậm chí không nhớ lâu, những
điều chúng ta nói ở đây; nhưng thế giới sẽ không bao giờ quên
được những ǵ mà các chiến sĩ đă thể hiện nơi đây. Nói đúng hơn,
chính chúng ta, những người c̣n sống tại đây phải cống hiến cho
công việc c̣n dang dở, một công việc mà các người chiến đấu nơi
đây đă cao cả tiến hành cho đến lúc nằm xuống. Nói đúng hơn,
chúng ta đến đây nguyện cống hiến cho nhiệm vụ to lớn c̣n lại
trước mắt -- rằng từ sự thôi thúc của những anh linh hiển hách
này, chúng ta nguyện sẽ tận tụy hơn nữa cho chính nghĩa mà họ đă
tận tụy phục vụ đến hơi thở cuối cùng -- rằng tại nơi đây chúng
ta nêu cao quyết tâm là các liệt sĩ này đă không chết vô ích --
rằng quốc gia này, dưới sự quan pḥng của Thượng Đế, nhất định
sẽ khai sinh lại nền tự do của ḿnh -- và rằng chính phủ của dân,
do dân và v́ dân nhất định sẽ không biến mất từ mặt trái đất.
Trần Ngọc Cư chuyển ngữ
|
chân trần
art2all.net
|